Cổ tích Việt Nam

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Thơi
Ngày gửi: 23h:29' 11-04-2024
Dung lượng: 2.7 MB
Số lượt tải: 5
Nguồn:
Người gửi: Trần Thị Thơi
Ngày gửi: 23h:29' 11-04-2024
Dung lượng: 2.7 MB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
Mục lục
Ai Làm Ra Lửa
"Ai Mua Hành Tôi" Hay Là "Lọ Nước Thần"
Bảy Chàng Trai Khỏe Mạnh
Bầu Tiên Và Gậy Rút
Cái Ang Vàng
Cái Trống Thần
Cây Tre Trăm Đốt
Chàng Ná
Chàng Mồ Côi Và Quan Tể Tướng
Chàng Mồ Côi Mất Tai, Mất Tóc
Chàng Rể Cóc
Chàng Trai Thật Thà
Chiếc Cầu Phúc Đức
Chử Đồng Tử
Con Út Vua Trời Và Ống Thuốc Thần
Con Chó Chín Đuôi
Con Dâu Nhà Trời
Con Nuôi Của Hổ
Chiếc Đèn Dưới Hang Sâu
Chú Cuội
Đam Bơ
Hai Con Vịt Vàng
Hoàng Tử Lang Liêu
Hai Nàng Công Chúa Nhà Trần
Hai Cây Khế
Hoàng Tử Lấy Vợ Xấu Xí
Lươn Thần Và Cậu Bé Nghèo Khổ
Mồ Côi Và Nàng Tiên
Nàng Công Chúa Nhìn Xa
Nàng Tô Thị
Nàng Vỏ Trứng
Sọ Dừa
Sự Tích Cái Vỏ Dao
Sự Tích Chim Khướu Bạc Đầu
Sự Tích Con Chẫu Chàng
Sự Tích Con Dã Tràng
Sự Tích Dưa Bở
Sự Tích Người Làm Chúa Muôn Loài
Sự Tích Thành Cổ Loa
Sự Tích Các Loài Cây Trên Đỉnh Phia Mu
Sự Tích Thần Núi Tản Viên
Sự Tích Nàng Tiên Gạo
Sự Tích Trái Dưa Hấu
Sự Tích Hồ Ba Bể
Sự Tích Cây Cọ Có Gai
Sơn Tinh - Thủy Tinh
Tạo Thi Thốn Và Công Chúa Út
Thàng Cao Chúa
Thạch Sanh
Ỷ Thổi Đón Quan(*)
TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM
CHỌN LỌC
Nhiều Tác Giả
www.dtv-ebook.com
Ai Làm Ra Lửa
Ngày xưa, khi người Thượng chưa biết làm ra lửa, họ vẫn phải đi mua
đãy. Mỗi lần mua mất một cái ché bằng vàng, bên ngoài sơn đủ màu sắc của
các con vật trên rừng núi, tốn kém lắm.
Một hôm, dân làng ngồi trong nhà dài (1) bỗng nghe gió đưa về tiếng
chim kêu: "Ót ô! Ót ọ" và trong ngọn gió có những tia lửa lập lòe nhấp nháy.
Dân làng rủ nhau đi tìm nơi sinh ra những tia lửa ấy. Họ đi vào rừng sâu,
núi thẳm. Đi năm ngày, năm đêm thì gặp một con ruồi. Họ hỏi ruồi:
- Ruồi ơi! Mày có thấy ai làm "Ót ô! Ót ọ!" Mà lại ra lửa không?
- Tôi không biết đâu. Nhưng tôi sẽ đi tìm hộ dân làng.
Nói rồi, ruồi bay đi.
Ruồi bay đi mãi tới một cái hang thì thấy con chim dá ố (2) đang ngồi kéo
gỗ làm lửa. Ruồi sợ dá ố trông thấy bèn nhóm mắt ở đằng khác để xem trộm,
dá ố lấy cây da dàn (3) và một sợi lạt, phía dưới để lá khô, rồi cầm hai đầu
kéo lên kéo xuống một lúc thì lửa bắn ra, rơi xuống lá khô, bén thành ngọn.
Ruồi học được cách làm lửa thích chí quá, bay vù ra. Dá ố thấy động quay
lại, biết ruồi xem trộm được cách làm lửa của mình, tức lắm. Vì ruồi sẽ vẽ
bày cho dân làng, người ta sẽ không mua lửa của dá ố nữa.
Dá ố đuổi bắt ruồi, đuổi lên tận trời, đuổi tận xuống đất nhưng không bắt
được.
Ruồi bay về bày cho dân làng cách đánh lửa của chim dá ố. Để trả ơn ruồi,
người ta cho nó được đốt trâu. Từ đó có loài ruồi trâu, và cũng từ đó người
Thượng đánh được lửa, biết làm bếp để nấu nước và dùng củi đốt sưởi trong
những ngày đông tháng giá.
(Truyện cổ dân tộc Hơ-rê)
Nguồn: Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam,
Phan Trọng Thưởng và Nguyễn Cừ biên soạn và tuyển chọn,
Nxb. Giáo dục, H., 2001
***
(1) Nhà dài: Nơi hội họp của làng.
(2) Dá ố: Một loài chim lông đỏ như lửa, kêu: Ót ô! Ót ọ.
(3) Da dàn: Một loại cây thân xốp, cọ nóng lên thì ra lửa.
TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM
CHỌN LỌC
Nhiều Tác Giả
www.dtv-ebook.com
"Ai Mua Hành Tôi" Hay Là "Lọ Nước Thần"
Ngày xưa, có một anh chàng trẻ tuổi chưa có vợ, sống bằng nghề làm
ruộng. Một ngày nọ anh xách búa lên rừng đốn củi. Trong khi đang lúi húi
chặt cây, anh trông thấy một con quạ tha một con chim sẻ tới đậu trên một
phiến đá ở gần chỗ mình đang làm đồng. Nhìn thấy thế, anh bỗng động lòng
thương con chim sẻ bé bỏng đang sắp sửa lọt vào miệng loài ác điểu. Anh
bèn nhặt hòn đá ném con quạ. Quạ giật mình bỏ mồi vỗ cánh bay lên. Tức
mình vì hỏng ăn, quạ kêu quàng quạc om sòm. Anh nhặt đá ném thêm và
mắng: "Đồ chim dữ! Hãy cút ngay!". Quạ hậm hực bay đi, miệng còn đe dọa
sẽ báo thù. Anh chàng chạy lại nhặt con chim sẻ đang thoi thóp, cố tìm cách
ấp ủ cho nó sống lại. Quả nhiên, chỉ chừng giập bã trầu, con chim sẻ đã hồi
tỉnh và bay được. Nó cảm ơn anh và bảo anh ngồi chờ để nó đưa biếu một
vật. Một lát sau, con chim đã bay trở lại, miệng ngậm một cái lọ bé đặt xuống
bên cạnh và nói:
- Đây là lọ nước thần có phép làm cho người già thì trẻ lại, vật nhỏ thì lớn
lên, trần gian không ai có.
Nói rồi nó vỗ cánh bay đi. Anh ngồi tần ngần mở nút ra xem thì thấy đầy
một lọ nước mùi thơm ngào ngạt. Anh nghĩ bụng:
- Những thứ này chỉ để cho các bà quan làm đỏm, có đâu để hạng như ta
dùng.
Nói rồi anh nút lọ lại cẩn thận, khi gánh củi về, treo lọ lên kèo nhà. Và rồi
thời gian trôi qua, vì bận công việc làm ăn, anh cũng quên đi, không nghĩ tới
cái lọ ấy nữa.
Ít năm sau đó, chật vật mãi anh chàng mới cưới được vợ. Vợ anh cũng
con nhà nông, quanh năm chân lấm tay bùn, nên đen đủi, xấu xí. Nhưng hai
vợ chồng thì rất thương yêu nhau.
Một hôm, chồng đi cày vắng, vợ ở nhà quét dọn khắp nơi. Thấy một cái lọ
con con treo trên kèo nhà, chị bèn bắc ghế lấy xuống mở nút ra xem. Khi
ngửi thấy mùi thơm, chị ta đồ là dầu thơm gội đầu. Lát sau, chị nấu nước tắm
rồi tiện tay đổ lọ nước ra bôi khắp tóc tai mình mẩy. Không ngờ sau khi bôi
xong chị ta tự nhiên trở nên xinh đẹp trắng trẻo, nhan sắc mĩ miều ít ai sánh
kịp. Nước thần trôi xuống mấy luống hành bên cạnh giếng, khiến cho những
cây hành cũng tự nhiên lớn phổng lên một cách lạ thường: Củ to như bình
vôi, dọc dài bằng đòn gánh.
Khi người chồng đi cày về nhìn mặt vợ thì ngẩn cả người cứ tưởng là tiên
sa xuống cõi trần, nếu không có tiếng nói thì cơ hồ anh không nhận ra vợ
mình. Nghe vợ nhắc đến lọ nước thơm, anh mới sực nhớ tới chuyện báo đền
của con chim sẻ ba năm về trước. Nỗi mừng biết lấy chi cân, anh ngắm vợ
mãi không chán mắt, rồi kể lại câu chuyện cũ cho vợ nghe.
Từ đấy, anh cứ quấn quýt bên vợ không rời. Công việc đồng áng vì thế
cũng mười phần bê trễ. Nhưng cứ ở nhà mãi thì đói mất nên anh đành phải đi
làm. Để khỏi nhớ vợ, anh thuê thợ vẽ hình vợ. Mỗi khi ra đồng làm việc, anh
lại treo bức tranh ở bờ ruộng để nhìn cho thỏa.
Một hôm, anh đang cày ruộng, bức tranh được treo lên một cái cọc cắm ở
trên bờ. Vừa cày được mươi luống, tự nhiên con quạ năm xưa ở đâu sà xuống
quắp lấy bức tranh mang đi. Anh chàng ở bên bờ kia thấy vậy, bèn hò hét
đuổi theo nhưng không kịp nữa. Quạ đã cất cánh bay cao và bay đi rất xa, chỉ
một loáng đã mất hút. Báo thù việc anh ném đá giành mồi của nó khi xưa,
quạ mang bức tranh vào đến tận Kinh đô, thả xuống sân rồng. Bọn lính thị vệ
thấy sự lạ lùng, bèn nhặt lên đem trình vua. Cầm bức truyền thần, vua ngắm
nghía mãi không chán mắt, bụng bảo dạ: "Trong ba cung sáu viện của ta đã
có nhiều người đẹp, nhưng chưa có người nào đẹp bằng người đàn bà trong
tranh này. Hẳn là trời sai con quạ đến mách cho ta đây!".
Lập tức vua ra lệnh cho một quan đại thần và một trăm thị vệ phải tìm cho
được người đàn bà như đã vẽ trong tranh mang về. Quan đại thần cho người
về các địa phương sục sạo khắp hang cùng ngõ hẻm. Để việc tìm tòi có hiệu
quả, chúng bày ra trò mở hội ở các vùng chúng đến để cho mọi người đổ về
xem. Mỗi lần thấy dân tập hợp đông đúc, chúng đưa bức tranh ra giả tảng nói
là tình cờ bắt được, người nào mất thì đến mà nhận.
Một hôm, chúng tới vùng quê hai vợ chồng anh chàng có lọ nước thần và
cũng bày trò mở hội ba đêm ngày. Quả nhiên anh chàng sa vào mưu gian.
Khi nhìn thấy bức tranh anh không đắnđo gì cả, lật đật bước tới để nhận.
Nhưng anh không ngờ bọn lính chộp lấy anh như chộp con mồi. Chúng theo
anh về nhà vàtìm thấy ngay người đàn bà trong tranh. Mừng quá chúng vội
đưa kiệu rước người vợ về Kinh đô, mặc cho người chồng vật mình than
khóc.
Sau khi bị bắt vào cung, người đàn bà không cười không nói, áo đẹp
không mặc, đầu không chải và không cho một ai đến gần. Đem được người
đẹp về cung, nhà vua hết sức mừng rỡ, nhưng cũng hết sức buồn phiền vì mọi
thứ dỗ dành, dọa nạt đều không thể làm cho người ngọc nở một nụ cười. Vua
bèn hạ lệnh cho thông báo trong dân chúng, hễ ai có cách gì làm cho nàng
cười nói lên được, thì sẽ ban thưởng cho quan cao lộc hậu. Nghe tin này, có
nhiều người, từ những vai hề nổi tiếng, những ông trạng cười cho đến các bậc
lương y, các pháp sư phù thủy v.v... đua nhau trẩy Kinh hy vọng dùng tài
phép làm cho người đàn bà phải buột miệng nói cười để mong ân thưởng.
Nhưng dù đã giở mọi trò, đều vô hiệu.
Lại nói chuyện anh chồng từ khi vợ bị quan quân bắt đi thì không còn
thiết làm ăn gì nữa. Khi nghe tin loan báo ai làm cho người đẹp trong cung
nói cười được thì vua sẽ ban thưởng, anh biết là vợ mình đang ở cung vua,
bèn quyết vào Kinh tìm vợ. Trước khi đi, anh nhổ mấy củ hành ở cạnh giếng
buộc làm một gánh, quảy theo. Đến Kinh đô, anh quảy gánh của mình đi lại
trước hoàng cung rao to lên những câu:
Dọc bằng đòn gánh
Củ bằng bình vôi
Ai mua hành tôi
Thì thương tôi với!
Tiếng rao của anh vọng vào cung mỗi lúc một to. Nét mặt của vợ anh
cũng mỗi lúc một tươi. Cuối cùng, nàng quay lại bảo thị nữ:
- Hãy gọi người bán hàng vào cho ta!
Khi nhìn thấy mặt chồng, vợ anh cười lên một tiếng. Thấy người đàn bà
lần đầu tiên cười nói, vua sung sướng như mở cờ trong bụng; lại thấy những
cây hành to lớn lạ thường thì lấy làm kinh ngạc. Vua ngỡ là nhờ những cây
hành kỳ lạ này mà người đẹp nói cười. Vua liền nảy ra ý nghĩ muốn tự mình
cải trang thành người bán hành để làm vui lòng người đẹp. Vua bảo anh
chồng:
- Hãy đặt gánh hành lại đó và cởi áo ra mau!
Vua cởi áo long bào vứt cho anh và mặc áo của anh. Vua còn bắt anh bày
cho mình học thuộc câu rao, rồi quảy gánh qua lại trước mặt người đàn bà,
cất tiếng rao mới học được. Thấy vậy, vợ anh hàng hành cười ngặt nghẽo.
Vua thích thú lại càng làm già. Nhưng đột nhiên người đàn bà bảo thị nữ thả
đàn chó ra. Chó thấy vua ngỡ là người lạ liền nhảy xổ tới cắn chết. Người đàn
bà vội bảo chồng:
- Mình hãy mau mau ngồi lên ngai vàng đi!
Anh chồng lật đật trèo lên ngai vàng giữa lúc trăm quan và cung nữ dập
đầu bái lạy. Từ đó anh làm vua và sống hạnh phúc trọn đời bên vợ.
Nguồn: Hợp tuyển Truyện cổ tích Việt Nam,
Lữ Huy Nguyên - Đặng Văn Lung sưu tầm và biên soạn,
Nxb. Giáo dục, H., 1996.
TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM
CHỌN LỌC
Nhiều Tác Giả
www.dtv-ebook.com
Bảy Chàng Trai Khỏe Mạnh
Ngày xửa ngày xưa, có nhà kia giàu của nhưng rất hiếm con.
Hai người cầu trời khấn Phật mấy mươi năm mới sinh được một đứa con.
Em bé mới lọt lòng mẹ, răng đã mọc đủ hai hàm, chẳng cần bú sữa và ăn mỗi
bữa hết một nồi ba cơm. Đầy một tuổi em đã cao lớn, khỏe mạnh chẳng ai
bằng và mỗi bữa ăn đến mấy thùng cơm mới no bụng. Cha mẹ em nghi con là
yêu quái, bàn nhau tìm cách bỏ em vào rừng. Hôm đó, người cha đưa con vào
rừng, vác theo một cái thuổng. Thấy có một tảng đá to, đứng chênh vênh,
người cha bảo con:
- Con vác hòn đá này về lót cho mẹ rửa chân!
Em bé ghé lưng vào hòn đá. Người cha lấy thuổng bẩy. Hòn đá đè em bé
xuống đất. Người cha cứ lững thững vác thuổng về. Còn đứa con tưởng mẹ
cần hòn đá thật nên cặm cụi vác về sau. Đến chiều, vợ chồng đang ngồi bên
mâm cơm trò chuyện thì em bé vác hòn đá về, ném bên giếng nước, rồi vào
trách cha:
- Hòn đá nặng thế mà cha không giúp con một tay. Nó đè lún con xuống
đất, con phải moi mãi mới vác về được.
Bố mẹ kinh ngạc, ăn chẳng được, bỏ dở bữa cơm. Nhưng tối hôm đó, hai
người lại bàn kế khác. Sáng ngày, người cha lại vác một cái rìu đưa con vào
rừng. Trông thấy một cây gỗ to hai người ôm không xuể, người cha ra sức
chặt từ sáng đến nửa buổi chiều. Lúc cây gỗ sắp ngã, người cha bảo con:
- Con ghé lưng vào đây, vác cây gỗ này về, để cha cưa ra làm mấy bộ ván.
Em bé ghé lưng vào. Cây gỗ ngã uỳnh xuống, em bé bị lấp mất trong đống
tán lá um tùm. Người cha vội vàng vác rìu chạy một mạch về nhà, người vợ
đã ngồi chờ bên mâm cơm. Ăn chưa xong bữa cơm, đã nghe em bé đứng
ngoài ngõ gọi:
- Mở cửa cho con. Sao cha về mà không bảo, để con cứ chờ mãi.
Cha mẹ em sợ hãi. Vợ trách chồng, chồng gắt vợ đổ lỗi cho nhau. Em bé
đứng ngoài cửa nghe, mới biết mình bị cha mẹ lừa vì họ tưởng mình là yêu
quái. Em tự bảo nếu cứ ở nhà sẽ xảy ra những điều không lành nên lẳng lặng
vứt cây gỗ trước cửa rồi bỏ đi.
Làng trên xóm dưới chẳng ai quen thuộc, lang thang dọc đường một lúc,
em bé nhằm cánh đồng trước mặt đi thẳng tới. Lúc đó đang hạn hán, đã đến
mùa cày mà trời không mưa. Mọi người phải ra sông đắp đập, đưa nước vào
đồng. Em bé đến đây, thấy trong đám đông có hai người khỏe lạ thường. Một
người đứng bẻ gỗ để làm cọc. Người thứ hai đang đóng cọc. Anh này có cái
nắm tay rất rắn và khỏe bằng hàng trăm chiếc vồ. Những cây gỗ của anh kia
bẻ vừa ném sang anh nhặt cắm xuống đất, đưa nắm tay ra làm vồ đóng. Anh
đóng một nhát, cây gỗ lún xuống đến vài gang tay. Em bé muốn làm quen với
hai anh này nhưng chưa biết bằng cách nào, thì lại có một người xăm xăm
bước tới chỗ đập nước. Hai bàn tay anh to như hai chiếc xẻng. Thấy anh kia
lấy tay làm vồ đóng cọc, anh muốn thử sức, liền lặn xuống nước, lần đến, đưa
bàn tay chắn ngang cây gỗ anh kia đang đập. Cây gỗ đang lún xuống đất,
bỗng dừng hẳn lại. Anh có nắm tay khỏe ra sức giáng liền mấy mươi đấm
một lúc, thanh gỗ vẫn không chuyển được chút nào. Anh này tức mình, lặn
xuống nước, sờ lần theo cây cọc, nắm được bàn tay, lôi anh kia lên, làm dữ:
- Tao phải đóng xong cái kè này, mới được làng cho ăn một bữa cơm, thế
mà mày phá tao, tao phải đánh mày.
Anh bẻ gỗ cũng chạy lại bênh anh đóng cọc:
- Tao phải bẻ năm xe gỗ, mới được trả một nồi ba gạo công, mà mày ngăn
lại, không cho nó đóng, thì ai còn thuê tao bẻ gỗ nữa?
Ba người gầm ghè nhau, người toan vác gỗ đâm, người đưa nắm tay ra
đấm, anh có bàn tay to, định dùng bàn tay mình làm cái xẻng, xúc hai anh kia
đổ đi chỗ khác. Em bé chạy lại can. Đang cơn nóng nảy, anh bẻ gỗ và anh
đóng cọc muốn đánh cả em. Em bé chạy vào giữa ba người nói:
- Tôi nhỏ, các anh lớn... các anh đánh, tôi thua thôi. Nhưng hãy nghe tôi
hỏi đã. Hai anh đã nói phải đi bẻ gỗ, đóng cọc thuê kiếm ăn. Tôi thì có cha
mẹ, nhưng cha mẹ tôi sợ tôi là yêu quái, ăn hết của, nên đem bỏ tôi. Vậy
chúng ta cùng cảnh nghèo sao không thương nhau còn đánh nhau? Còn anh
có bàn tay to như cái xẻng, tại sao không cho anh này đóng cọc?
Anh có bàn tay to gắt gỏng:
- Hai bàn tay tao khỏe bằng hàng trăm chiếc xẻng. Tao vỡ không biết bao
nhiêu ruộng nhưng vỡ được bao nhiêu bọn nhà giàu tranh hết bấy nhiêu! Tao
vỡ chỗ nào, chúng bảo chỗ ấy là đất của chúng. Tức quá, tao phá cái đập này,
cho ruộng chúng nó bị khô!
Nghe anh này nói, hai anh kia hết giận, em bé lại bảo:
- Chúng ta đều thiếu ruộng, thiếu cơm, bị người khác hà hiếp, vậy đừng
giận nhau nữa, hãy kết bạn đi kiếm nơi làm ăn.
Ba người đều khen em bé nói phải, bằng lòng kết làm anh em. Họ đặt lại
tên nhau cho dễ gọi, và thi tài để chọn người đứng đầu. Em bé kia ngồi
xuống, cho các anh chất lên vai mười tảng đá bằng cái máng lợn. Em đứng
thẳng dậy, chạy mười vòng xung quanh một đám ruộng to. Mấy anh kia bảo
em khỏe nhất, lại có lời nói khôn, đáng làm người đứng đầu. Anh bẻ gỗ được
xếp thứ hai, anh đóng cọc thứ ba, anh có bàn tay xẻng thứ tư.
Bốn người từ giã đồng bằng, theo dòng sông đi ngược lên nguồn, kiếm đất
làm ăn. Đi nửa ngày thấy có nước sông vọt lên ruộng ầm ầm, cột nước to
bằng năm, bảy người tát một lúc. Bốn người không biết chuyện gì, liền đến
xem. Thấy giữa sông có một người đang khom lưng, há mồm hút nước phun
lên những đám ruộng lúa đang khô nẻ.
Vác đá đến gần hỏi:
- Ruộng hai bên bờ sông này đều là của anh chăng? Đến mùa gặt, chắc
nhà anh thừa nhiều thóc?
- Tao phải phun cho đầy nước vào hai thửa ruộng này, mới được chủ
ruộng trả cho một thúng cơm. Thúng cơm đang để kia.
Anh hút nước lại hỏi bốn người:
- Chứ chúng mày lấy đâu ra cơm ăn, mà đi chơi thong thả rảnh rang vậy?
Bốn người kia nói lại cảnh khổ và ý định của mình. Anh hút nước nhảy
vọt lên bờ:
- Thế thì chúng mày phải cho tao theo. Tao cũng khổ như chúng mày!
Anh hút nước nhập bọn. Đến chiều, năm người rẽ vào rừng ngồi dưới gốc
cây nghỉ chân. Lại thấy một người đến chỗ có hai cây gỗ to đứng gần nhau kề
hai vai vào hai cây nhổ bật gốc lên, vác cả cây lẫn cành ra về. Năm người kia
nhìn theo, ai cũng tặc lưỡi. Vác đá đứng dậy, ướm hỏi:
- Vội gì mà anh không chặt bỏ cành, bỏ gốc vác cho nhẹ?
Nghe tiếng người nói, anh nhổ cây quay lại để nguyên hai cây gỗ trên vai,
nói:
- Hai cây gỗ chỉ đổi được có nửa thúng thóc, thì chặt gốc chặt ngọn làm gì
cho mệt?
Vác đá nói:
- Anh bị lừa rồi. Vác cả gốc, cả ngọn thì nặng vai anh, mà người đổi được
lấy cành làm củi đun.
- Mày còn bé mà đã khôn hơn tao. Không gặp mày tao chưa biết tao bị
lừa.
- Chúng tôi cũng nghèo, cũng bị lừa như anh, bây giờ rủ nhau đi làm. Anh
có đi thì đi cùng.
- Tại sao tao lại không đi. Chúng mày đã cho tao biết tao bị lừa, chắc
chúng mày không lừa tao. Chúng mày đi đến đâu, tao cũng theo.
Sáu người lại dắt nhau đi. Tối hôm sau, cả sáu người cùng bẻ lá lót dưới
gốc cây, nằm ngủ trong rừng. Sáng ngày đã thấy một người vác một bó lao
đuổi theo đàn nai. Đàn nai hơn mười con đều bị anh đuổi theo, phóng lao giết
chết hết. Sáu người cùng chạy ra xem. Vác đá cất tiếng hỏi:
- Mỗi lần được bằng ấy nai, chắc nhà anh giàu lắm?
- Voi tao phóng còn chết nữa là nai. Nhưng tao có ăn thịt trừ cơm được
đâu mà giàu! Một con nai chúng chỉ đổi cho tao một thúng thóc. Một con voi
có ngà, cũng chỉ đổi được có một cái áo rách. Mà voi, nai đâu có phải ngày
nào cũng tìm được! Cái thằng chủ rừng ấy ác lắm! Tao săn được bao nhiêu
nó cũng bắt phải đổi rẻ cho nó.
Vác đá kể cảnh nghèo cho anh chạy giỏi nghe. Bẻ gỗ cũng nói:
- Tao giống như mày đấy, ngày nào tao cũng nhổ bốn cây gỗ, mà đổi
chẳng đủ gạo ăn, tao mới gặp chúng nó hôm qua. Chúng nó cũng là người
nghèo mà khôn. Tao ngủ chung với chúng nó một đêm rồi, tao biết, chúng nó
tốt lắm. Mày nên nhập bọn đi làm ăn với chúng tao.
Anh kia chẳng chút lưỡng lự, xin nhập bọn luôn. Thế là trong bọn đã có
bảy người. Bảy anh em bẻ nứa kéo lửa nướng thịt nai ăn no nê rồi đi về phía
mặt trời lặn.
Trên dãy núi kia có một vùng đất rộng, bằng phẳng như mặt nước trong
hồ. Chỗ này trước kia có xóm làng đông đúc. Những con yêu tinh trong núi
hay ra bắt người, bắt cả trâu bò, heo, dê. Nó lại có phép tự hóa to ra, hoặc thu
nhỏ mình lại. Tiếng nó gầm to như sấm rền. Bắt được đàn ông, đàn bà thì nó
ăn thịt, con gái đẹp thì nó để làm vợ. Dân làng khiếp sợ con yêu tinh này bỏ
đi tản mác mỗi người một nơi. Bảy chàng trai khỏe vào đây thấy nhà cửa xác
xơ, nồi chậu lăn bừa bãi. Bảy anh đi chặt cây, cắt lá gianh làm nhà ở, rồi ra
công trồng tỉa.
Đất mới nhà thưa, chẳng ai tranh giành lừa lọc. Lúa của họ xanh mát mắt,
bầu bí bỏ ngọn um tùm. Người làng đi về trông thấy có các anh, đều lần lượt
trở về làm nhà ở gần, dựa sức nhau làm ăn.
Con yêu tinh thấy làng cũ đông người, lại lần đến. Nó biến thành một con
vật hình thù kỳ quái, ba đầu sáu tay, mười hai mắt, thân xám như tro, to như
đống rơm, tiếng thét vang như sấm. Dân làng sợ hãi, chạy ùa vào nhà bảy
anh. Con yêu tinh tưởng như mọi ngày, ùa theo đuổi bắt. Bảy anh khỏe tản ra
sân. Con yêu tinh bổ vào, bị anh đóng cọc thụi cho một thụi vào đầu. Bị đánh
một cái mạnh bằng hàng trăm chiếc búa bổ, con yêu tinh thụt ngay cái đầu
đau vào thân, né sang bên kia. Anh bẻ gỗ vớ tay nó, bẻ liền. Tay con yêu tinh
gãy lủng lẳng. Anh vác đá lại vác một tảng đá to như cái giường ném mạnh
vào giữa lưng nó. Nó rùng mình, hóa cánh bay lên. Anh chạy giỏi đã rút được
cái đòn tay nhà, làm lao phóng theo. Cái lao đâm trúng giữa mồm con yêu
quái. Nó rú lên một tiếng rồi bay vụt vào núi.
Bị một trận đòn đau, con yêu quái thù bảy chàng trai trẻ nhưng không dám
đến làng. Nó bèn bay trên cao, hóa lửa phun xuống đốt nhà. Lửa bốc lên cao,
khói mù mịt, cháy lan từ nhà này sang nhà khác, sang cả núi rừng. Anh hút
nước phải ra sông hút nước tưới. Anh tay xẻng dùng hai bàn tay xúc đất đổ
vào. Anh bẻ gỗ nhổ từng bụi cây dập lửa trên những ngôi nhà bị cháy dở.
Con yêu quái lại hóa lửa đốt phá mùa màng. Bảy chàng khỏe tức lắm, rủ
nhau đi tìm chỗ nó ở.
Bảy người tìm khắp núi rừng, không gặp con yêu tinh nhưng thấy lối nó
đi. Bảy chàng bứt dây rừng bện lại to bằng cây cột giăng ngang đường. Ba
người giữ một đầu dây, còn một người đứnglàm hiệu.
Trăng lên, con yêu tinh từ trong động đi ra. Bị vướng dây nó ngã sấp.
Nhưng bảy người vừa chạy lại, nó đã bới đất chui xuống. Anh tay xẻng liền
dùng hai tay bới theo. Bàn tay xén một nhát ước đến mười gánh đất. Con yêu
tinh cũng khỏe, anh kia càng xén, nó càng chui sâu. Anh hút nước liền đi hút
nước đổ vào đó. Nhưng sông ở xa, nước chưa đủ làm cho con yêu tinh ngạt
đã thấm hết vào đất. Anh chạy giỏi, chạy nhanh như gió cõng anh hút nước đi
cho nhanh nên chỉ một buổi, nước đã ngập đầy lỗ, con yêu tinh quay đầu nhoi
ngược lên. Bảy anh khỏe xúm lại đánh, nhiều người, lộn xộn quá, con yêu
tinh thoát ra được. Anh bẻ gỗ chỉ kịp bẻ một cây gỗ phang nó què một chân.
Bị què một chân mà con yêu tinh chạy còn nhanh hơn con hươu rừng.
Xong anh chạy giỏi vẫn đuổi theo sát gót nên nó chẳng kịp hóa cánh, cứ lê
cái chân què chạy về động.
Động con yêu tinh rất nhiều hang, lại lắm ngóc ngách. Anh chạy giỏi theo
đến cửa, nó đã chui vào trong. Không biết nó chui ngách nào. Chạy giỏi lấp
cửa hang rồi trở về gọi thêm sáu người bạn. Bảy anh chàng khỏe vào phá
động. Cái động cao như núi, hang hố ngoằn ngoèo, bị bảy chàng trai bới tung.
Mùi trong hang bay ra tanh hôi khó chịu. Vào hang, bảy chàng trai thấy có
nhiều người ngồi ủ rũ xanh xao. Bảy chàng khỏe vừa đưa những người kia ra
một đoạn, lại nghe có tiếng khóc ở ngách bên mà không thấy đường vào. Họ
phải dùng sức vần những tảng đá sang bên. Bên trong tảng đá có một cái
hang rộng. Hai mươi mốt cô gái ngồi trong khóc than. Con yêu tinh đã chọn
những người con gái đẹp này nhốt riêng. Mỗi khi ra ngoài, nó lấy đá lấp kín
cửa lại.
Cứu được người mà chẳng thấy con yêu tinh. Bảy chàng trai tìm mãi mới
thấy nó chui vào kẽ đá. Kẽ đá rất chặt. Con yêu tinh rúc mãi vào trong, tay
bấu vách đá như con kỳ đà, mồm rúc vào túi phép đeo trước ngực. Túi phép
đó đã hết thiêng từ lúc bị vấp dây ngã sấp xuống đất nên nó hóa mãi mà
chẳng được gì. Nhưng sức nó còn khỏe lắm. Bảy chàng đã nắm được chân nó
mà không lôi ra được, nên mỗi người lại phải trổ tài riêng. Cuối cùng, con
yêu tinh nằm trơ ra. Bảy chàng nổi lửa đốt xác nó, rồi đưa những người được
cứu sống trở lại làng.
Con yêu tinh bị giết, chẳng bao lâu những người trốn tránh xa gần đều trở
về nhà cũ. Cái làng hoang vắng xưa kia nay lại đông đúc yên vui. Lúa lại
xanh đồng, khoai tươi tốt, trâu dê đầy chuồng. Nhớ ơn cứu sống, hai mươi
mốt cô gái đẹp lấy bảy chàng trai khỏe làm chồng. Bảy người sinh con đẻ
cháu chật nhà mà không bị lừa lọc đói khổ như xưa.
(Truyện cổ dân tộc Chăm)
Phạm Xuân Thông và Quảng Đại Cường sưu tầm, biên soạn.
Nguồn: Truyện cổ tích Việt Nam hay nhất, tập 2,
Nguyễn Cừ tuyển chọn, Nxb. Văn học, H., 2002.
TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM
CHỌN LỌC
Nhiều Tác Giả
www.dtv-ebook.com
Bầu Tiên Và Gậy Rút
Ngày xưa ở làng Thọ Vực (thuộc xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh
Thanh Hóa bây giờ) có một gia đình nghèo sinh được mấy người con, trong
số đó, người con thứ hai đặt tên là Trịnh Phát Giác. Giác là một chú bé kháu
khỉnh và thông minh lắm. Ngày ngày, chú thường chăn bò ở ven núi đầu làng
với chúng bạn. Các chú thường nhận thấy là cứ đến phiên chợ Giáng thì có
một ông già xách bị, cầm gậy đi qua bãi cỏ. Có lúc ông cụ đi thẳng, nhưng
cũng có lúc ông cụ ngồi xuống nghỉ chân vài ba khắc. Lần nào ngồi nghỉ ông
cũng đều ngắm nghía từng chú bé một và lẩm bẩm những gì không rõ. Một
hôm, Trịnh Phát Giác bạo dạn chạy lại, hỏi cụ:
- Cụ ơi! Cụ ở đâu mà phiên chợ nào cũng qua lại và nghỉ ở đây thế?
Ông cụ gật gù thầm nghĩ: "Thằng bé này khá lắm", và trả lời:
- Lão ở xa lắm. Lão đi chợ qua đây thấy các cháu chơi vui thì nhìn một tí.
Cháu có muốn gánh đỡ cho lão không? Cứ gánh đi tới chợ, lão mua bánh
cho.
Phát Giác gật đầu đồng ý, bảo với chúng bạn:
- Chúng mày ơi! Giữ hộ bò tao với nhé. Chờ tao đi xem chợ một chốc.
Rồi ông cụ cho bánh tao đem về cho mà ăn.
Quả thật, chiều về, Trịnh Giác mang theo cho chúng bạn rất nhiều quà
bánh. Mấy phiên chợ sau, ông lão cũng vẫn đi qua và cũng rủ Phát Giác đi
chợ như vậy. Đã có đôi lần, một vài chú bé khác xin đi thay, nhưng đứa nào
cầm đến chiếc bị của ông cụ cũng đều kêu nặng, không tài nào xách lên nổi,
cả những đứa lớn khỏe hơn Phát Giác rất nhiều cũng vậy. Chúng lấy làm lạ
hỏi ông cụ:
- Cụ ơi! Cụ bỏ cái gì vào trong bị mà nặng thế?
Ông cụ mở bị lôi ra quả bầu:
- Có gì đâu, chỉ có quả bầu lão đựng nước uống đi đường đấy mà.
- Thế sao Phát Giác nó xách nổi, mà chúng cháu xách không nổi?
- Chẳng phải thế, có lẽ Phát Giác nó xách quen rồi đấy thôi! - Ông cụ trả
lời qua quýt.
Bọn mục đồng không tin, nhưng cũng không hỏi thêm nữa. Chúng nhìn
theo ông lão bước đi thoăn thoắt và Phát Giác nhẹ nhàng theo sau mà vừa lạ
lùng, vừa thèm muốn. Hôm ấy, mãi đến xế chiều vẫn không thấy ông lão và
thằng bé về. Chúng chờ mãi không được, đuổi bò về cho Phát Giác và đến kể
cho gia đình nghe. Bố mẹ Phát Giác hoảng hốt chạy bổ đi tìm, nhưng tìm
khắp cả mọi nơi đều không thấy con đâu cả. Sáng hôm sau cũng không thấy
Phát Giác về. Liên tiếp đến hàng năm vẫn bặt tin tức. Mẹ Phát Giác khóc lóc
khổ sở, đành chịu mất con.
Nhưng thật ra, chiều hôm ấy, Phát Giác vẫn đi với ông lão. Ra đến chợ,
ông lão bảo Phát Giác đứng chờ, để ông lão đi bán thuốc. Mãi đến sẩm tối
mới thấy ông lão ra và hai ông cháu trở về. Thấy bạn bè đã về hết, Phát Giác
khóc và bảo ông cụ:
- Cụ dẫn cháu đi lâu thế này, về nhà mẹ cháu đánh cháu chết mất.
Ông cụ khuyên nhủ:
- Thôi, trời đã tối rồi, cháu về nhà lão ở, mai lão dẫn cháu về, nói rõ câu
chuyện, bố mẹ cháu không mắng đâu.
- Nhà cụ ở đâu?
- Ở đây thôi.
Vừa nói, ông cụ vừa mở bị lấy quả bầu ra, bảo Phát Giác nhìn vào trong
ấy. Một quang cảnh lạ lùng diễn ra trước mắt chú bé ngây thơ. Đây là cả một
thế giới riêng có làng xóm, nhà cửa hẳn hoi, ánh mặt trời chiếu xuống khe
núi. Trên hàng cây dương liễu, chim hót líu lo. Ông cụ dắt Giác bước vào,
ngồi trên một phiến đá phẳng lì, mát rượi. Chú bé nhìn quanh nhìn quẩn, càng
nhìn càng thích mắt. Ông cụ lại bảo:
- Cháu đói rồi phải không? Có oản, chuối đấy, ăn đi. Ăn rồi vục nước dưới khe kia mà uống.
Ông cụ với tay lên một chiếc lẵng treo cạnh cành cây, bên phiến đá, lấy ra
một mẩu oản nhỏ xíu và vươn mình sang hàng chuối trước mặt, bẻ cho Phát
Giác một quả. Phát Giác lúc đầu cho rằng ăn có chừng ấy thì chẳng bõ bèn gì,
nhưng cầm lấy phần oản, chú chưa ăn hết được một góc đã thấy no. Quả
chuối vừa bóc ra thì mùi hương thơm phức, vị ngọt mà thanh. Thực chưa bao
giờ chú được ăn món quà đặc biệt như thế. Ông lão mỉm cười, giảng giải:
- Cái oản cháu ăn đó, làm bằng thứ nếp vạn thọ người đời không có đâu.
Các thứ hoa quả ở đây đều là của tự nhiên không vướng gì trần tục, nên mới
có mùi hương như vậy.
Rồi ông cụ dắt Phát Giác đứng dậy, dạo chơi ven bờ suối. Ông cụ chỉ dải
cát lấp lánh bên bờ mà bảo chú bé:
- Cháu có thấy những gì đó không? Vàng bạc cả đấy! Ở nơi bố mẹ cháu ở,
được một viên nho nhỏ như thế là quý vô cùng. Nhưng ở đây thì chỉ là một
thứ sỏi đá.
Như sực nhớ ra điều gì, Phát Giác quay lại hỏi ông cụ:
- Cháu nhớ vừa mới rồi, cụ dắt cháu ở chợ về thì trời đã sẩm tối. Sao bây
giờ ở đây lại như đang còn vào buổi sáng hở cụ?
- Ở đây không có ngày tháng gì cả. Trời đất lúc nào cũng như bây giờ. Có
cả mặt trăng, mặt trời cùng một lúc. Cháu có muốn xem cảnh trăng thì đi theo
lão.
Ông cụ dắt Phát Giác đi vào phía sau. Quả nhiên ở đây là một cảnh trí
khác lung linh, huyền ảo, ánh trăng bàng bạc chiếu xuống hàng cây đỏ, bãi
cát xanh. Thấp thoáng xa xa có ngọn đèn chập chờn của một xóm quê ẩn hiện
dưới làn sương mỏng. Phát Giác càng xem càng thích, càng thấy cảnh sắc êm
đềm, tươi đẹp. Em lại hỏi ông cụ:
- Sao cháu thấy có xóm làng mà không thấy có người nào cả.
Ông cụ đáp:
- Có chứ, ở đây có rất nhiều người, nhưng người ở đây đều là tiên cả.
Cháu đã nghe nói đến tiên bao giờ chưa? Họ cũng làm lụng, ăn uống, trò
chuyện như người đời. Có điều là họ không có hạng giàu hạng nghèo, kẻ trên
người dưới. Ai cũng làm lấy mà ăn, không cãi cọ tranh giành, mọi người đều
vui vẻ. Của cải, vật dụng dồi dào, không có chuyện trộm cắp xấu xa, không ai
có của riêng của để. Họ ra chơi luôn, đông như ngày hội, rồi đây cháu sẽ được gặp.
Ở trong thế giới ấy với ông cụ được ít lâu, Trịnh Phát Giác nhớ nhà quá.
Em nói với ông cụ xin về thăm bố mẹ và các em. Em còn muốn đưa bố mẹ và
các em vào trong này xem cảnh. Ông cụ ra ý không vui.
- Cháu về à? Nhà cháu bây giờ xa lắm đấy. Cháu về làm gì nữa? Cháu
không muốn ở đây sao?
- Cháu muốn ở đây lắm. Nhưng cháu còn các em, cháu nhớ các em cháu.
Và cháu còn bố mẹ cháu.
Ông cụ không ngăn được, bèn đưa cho em một cái gậy và một phẩm oản:
- Lão bận lắm, còn phải làm thuốc. Bây giờ cháu cứ cầm cái gậy này mà
đi ra. Nơi nào không đi được thì cứ cầm gậy trỏ xuống đất thì sẽ vượt qua
mau chóng.
Trịnh Phát Giác cầm lấy gậy và oản, chào ông cụ đi ra. Chú bé nhặt mấy
viên sỏi đẹp bên khe suối bỏ vào túi, định về cho em chơi và khoe với chúng
bạn. Được mấy bước, chú ra khỏi quả bầu, ngoảnh mặt lại thì không thấy ông
cụ, nhà cửa, khe suối đâu nữa. Trước mặt chú là những dãy núi cao chót vót,
làng mạc thôn xóm thì ở đâu xa tít chân trời. Phát Giác hoảng sợ, cầm gậy trỏ
xuống đất. Bỗng nhiên chú thấy thân mình cất bổng lên cao, hai bên tai gió
quạt vù vù. Chỉ trong chớp mắt, quay đầu gậy lại, chú đã thấy mình đứng ở
đầu làng Thọ Vực. Chú mới biết rằng đó là chiếc gậy thần tiên để rút đất và
ông cụ quả thật là một thần nhân.
Phát Giác lần theo lối cũ đi vào làng, về nhà mình. Chú chắc mẩm sẽ được
gặp cha mẹ, anh em, nhưng lạ thay, không thấy một ai quen thuộc. Một cụ già
ra đón chú, hỏi chuyện, và trả lời một cách kinh ngạc:
- Trước đây hàng trăm năm, tôi có nghe cụ tổ nhà tôi kể có một người con
trai thất lạc từ thuở bé, tên tuổi đúng như cậu. Bây giờ đã gần ba đời rồi kia
mà.
Cả họ hàng làng xóm kéo đến. Phát Giác hỏi đến những người bạn chăn
bò chăn trâu thuở trước thì đã mất cả rồi. Phát Giác kể lại câu chuyện trong
chiếc bầu tiên. Ai nấy đều lấy làm kinh dị. Một ông lão nói:
- Thôi thế chính là cậu đã được đi vào cõi tiên rồi. Tôi nghe nói một ngày
trên trời dài bằng cả năm dưới hạ giới. Chúng tôi đây chỉ là hạng con em,
cháu chắt của cậu thôi.
Trịnh Phát Giác hoang mang, không biết xử trí ra sao cả. Cậu móc túi lấy
mấy viên sỏi ra, nhưng vừa đặt lên tay thì sỏi đã thành những cánh hoa bay
mất. Buồn rầu, cậu cắm chiếc gậy xuống đất. Chiếc gậy bỗng hóa thành ra
một con rồng, cậu bé trèo lên lưng rồng và bay đi. Nơi cắm chiếc gậy nổi lên
một dãy núi đá có cửa hang mở rộng. Người làng đi vào trong hang thấy cảnh
trí thần kỳ, có đường đi mãi vào trong. Họ quay về hỏi những người tinh
thông sách vở. Một cụ đồ tra điển tích...
Ai Làm Ra Lửa
"Ai Mua Hành Tôi" Hay Là "Lọ Nước Thần"
Bảy Chàng Trai Khỏe Mạnh
Bầu Tiên Và Gậy Rút
Cái Ang Vàng
Cái Trống Thần
Cây Tre Trăm Đốt
Chàng Ná
Chàng Mồ Côi Và Quan Tể Tướng
Chàng Mồ Côi Mất Tai, Mất Tóc
Chàng Rể Cóc
Chàng Trai Thật Thà
Chiếc Cầu Phúc Đức
Chử Đồng Tử
Con Út Vua Trời Và Ống Thuốc Thần
Con Chó Chín Đuôi
Con Dâu Nhà Trời
Con Nuôi Của Hổ
Chiếc Đèn Dưới Hang Sâu
Chú Cuội
Đam Bơ
Hai Con Vịt Vàng
Hoàng Tử Lang Liêu
Hai Nàng Công Chúa Nhà Trần
Hai Cây Khế
Hoàng Tử Lấy Vợ Xấu Xí
Lươn Thần Và Cậu Bé Nghèo Khổ
Mồ Côi Và Nàng Tiên
Nàng Công Chúa Nhìn Xa
Nàng Tô Thị
Nàng Vỏ Trứng
Sọ Dừa
Sự Tích Cái Vỏ Dao
Sự Tích Chim Khướu Bạc Đầu
Sự Tích Con Chẫu Chàng
Sự Tích Con Dã Tràng
Sự Tích Dưa Bở
Sự Tích Người Làm Chúa Muôn Loài
Sự Tích Thành Cổ Loa
Sự Tích Các Loài Cây Trên Đỉnh Phia Mu
Sự Tích Thần Núi Tản Viên
Sự Tích Nàng Tiên Gạo
Sự Tích Trái Dưa Hấu
Sự Tích Hồ Ba Bể
Sự Tích Cây Cọ Có Gai
Sơn Tinh - Thủy Tinh
Tạo Thi Thốn Và Công Chúa Út
Thàng Cao Chúa
Thạch Sanh
Ỷ Thổi Đón Quan(*)
TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM
CHỌN LỌC
Nhiều Tác Giả
www.dtv-ebook.com
Ai Làm Ra Lửa
Ngày xưa, khi người Thượng chưa biết làm ra lửa, họ vẫn phải đi mua
đãy. Mỗi lần mua mất một cái ché bằng vàng, bên ngoài sơn đủ màu sắc của
các con vật trên rừng núi, tốn kém lắm.
Một hôm, dân làng ngồi trong nhà dài (1) bỗng nghe gió đưa về tiếng
chim kêu: "Ót ô! Ót ọ" và trong ngọn gió có những tia lửa lập lòe nhấp nháy.
Dân làng rủ nhau đi tìm nơi sinh ra những tia lửa ấy. Họ đi vào rừng sâu,
núi thẳm. Đi năm ngày, năm đêm thì gặp một con ruồi. Họ hỏi ruồi:
- Ruồi ơi! Mày có thấy ai làm "Ót ô! Ót ọ!" Mà lại ra lửa không?
- Tôi không biết đâu. Nhưng tôi sẽ đi tìm hộ dân làng.
Nói rồi, ruồi bay đi.
Ruồi bay đi mãi tới một cái hang thì thấy con chim dá ố (2) đang ngồi kéo
gỗ làm lửa. Ruồi sợ dá ố trông thấy bèn nhóm mắt ở đằng khác để xem trộm,
dá ố lấy cây da dàn (3) và một sợi lạt, phía dưới để lá khô, rồi cầm hai đầu
kéo lên kéo xuống một lúc thì lửa bắn ra, rơi xuống lá khô, bén thành ngọn.
Ruồi học được cách làm lửa thích chí quá, bay vù ra. Dá ố thấy động quay
lại, biết ruồi xem trộm được cách làm lửa của mình, tức lắm. Vì ruồi sẽ vẽ
bày cho dân làng, người ta sẽ không mua lửa của dá ố nữa.
Dá ố đuổi bắt ruồi, đuổi lên tận trời, đuổi tận xuống đất nhưng không bắt
được.
Ruồi bay về bày cho dân làng cách đánh lửa của chim dá ố. Để trả ơn ruồi,
người ta cho nó được đốt trâu. Từ đó có loài ruồi trâu, và cũng từ đó người
Thượng đánh được lửa, biết làm bếp để nấu nước và dùng củi đốt sưởi trong
những ngày đông tháng giá.
(Truyện cổ dân tộc Hơ-rê)
Nguồn: Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam,
Phan Trọng Thưởng và Nguyễn Cừ biên soạn và tuyển chọn,
Nxb. Giáo dục, H., 2001
***
(1) Nhà dài: Nơi hội họp của làng.
(2) Dá ố: Một loài chim lông đỏ như lửa, kêu: Ót ô! Ót ọ.
(3) Da dàn: Một loại cây thân xốp, cọ nóng lên thì ra lửa.
TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM
CHỌN LỌC
Nhiều Tác Giả
www.dtv-ebook.com
"Ai Mua Hành Tôi" Hay Là "Lọ Nước Thần"
Ngày xưa, có một anh chàng trẻ tuổi chưa có vợ, sống bằng nghề làm
ruộng. Một ngày nọ anh xách búa lên rừng đốn củi. Trong khi đang lúi húi
chặt cây, anh trông thấy một con quạ tha một con chim sẻ tới đậu trên một
phiến đá ở gần chỗ mình đang làm đồng. Nhìn thấy thế, anh bỗng động lòng
thương con chim sẻ bé bỏng đang sắp sửa lọt vào miệng loài ác điểu. Anh
bèn nhặt hòn đá ném con quạ. Quạ giật mình bỏ mồi vỗ cánh bay lên. Tức
mình vì hỏng ăn, quạ kêu quàng quạc om sòm. Anh nhặt đá ném thêm và
mắng: "Đồ chim dữ! Hãy cút ngay!". Quạ hậm hực bay đi, miệng còn đe dọa
sẽ báo thù. Anh chàng chạy lại nhặt con chim sẻ đang thoi thóp, cố tìm cách
ấp ủ cho nó sống lại. Quả nhiên, chỉ chừng giập bã trầu, con chim sẻ đã hồi
tỉnh và bay được. Nó cảm ơn anh và bảo anh ngồi chờ để nó đưa biếu một
vật. Một lát sau, con chim đã bay trở lại, miệng ngậm một cái lọ bé đặt xuống
bên cạnh và nói:
- Đây là lọ nước thần có phép làm cho người già thì trẻ lại, vật nhỏ thì lớn
lên, trần gian không ai có.
Nói rồi nó vỗ cánh bay đi. Anh ngồi tần ngần mở nút ra xem thì thấy đầy
một lọ nước mùi thơm ngào ngạt. Anh nghĩ bụng:
- Những thứ này chỉ để cho các bà quan làm đỏm, có đâu để hạng như ta
dùng.
Nói rồi anh nút lọ lại cẩn thận, khi gánh củi về, treo lọ lên kèo nhà. Và rồi
thời gian trôi qua, vì bận công việc làm ăn, anh cũng quên đi, không nghĩ tới
cái lọ ấy nữa.
Ít năm sau đó, chật vật mãi anh chàng mới cưới được vợ. Vợ anh cũng
con nhà nông, quanh năm chân lấm tay bùn, nên đen đủi, xấu xí. Nhưng hai
vợ chồng thì rất thương yêu nhau.
Một hôm, chồng đi cày vắng, vợ ở nhà quét dọn khắp nơi. Thấy một cái lọ
con con treo trên kèo nhà, chị bèn bắc ghế lấy xuống mở nút ra xem. Khi
ngửi thấy mùi thơm, chị ta đồ là dầu thơm gội đầu. Lát sau, chị nấu nước tắm
rồi tiện tay đổ lọ nước ra bôi khắp tóc tai mình mẩy. Không ngờ sau khi bôi
xong chị ta tự nhiên trở nên xinh đẹp trắng trẻo, nhan sắc mĩ miều ít ai sánh
kịp. Nước thần trôi xuống mấy luống hành bên cạnh giếng, khiến cho những
cây hành cũng tự nhiên lớn phổng lên một cách lạ thường: Củ to như bình
vôi, dọc dài bằng đòn gánh.
Khi người chồng đi cày về nhìn mặt vợ thì ngẩn cả người cứ tưởng là tiên
sa xuống cõi trần, nếu không có tiếng nói thì cơ hồ anh không nhận ra vợ
mình. Nghe vợ nhắc đến lọ nước thơm, anh mới sực nhớ tới chuyện báo đền
của con chim sẻ ba năm về trước. Nỗi mừng biết lấy chi cân, anh ngắm vợ
mãi không chán mắt, rồi kể lại câu chuyện cũ cho vợ nghe.
Từ đấy, anh cứ quấn quýt bên vợ không rời. Công việc đồng áng vì thế
cũng mười phần bê trễ. Nhưng cứ ở nhà mãi thì đói mất nên anh đành phải đi
làm. Để khỏi nhớ vợ, anh thuê thợ vẽ hình vợ. Mỗi khi ra đồng làm việc, anh
lại treo bức tranh ở bờ ruộng để nhìn cho thỏa.
Một hôm, anh đang cày ruộng, bức tranh được treo lên một cái cọc cắm ở
trên bờ. Vừa cày được mươi luống, tự nhiên con quạ năm xưa ở đâu sà xuống
quắp lấy bức tranh mang đi. Anh chàng ở bên bờ kia thấy vậy, bèn hò hét
đuổi theo nhưng không kịp nữa. Quạ đã cất cánh bay cao và bay đi rất xa, chỉ
một loáng đã mất hút. Báo thù việc anh ném đá giành mồi của nó khi xưa,
quạ mang bức tranh vào đến tận Kinh đô, thả xuống sân rồng. Bọn lính thị vệ
thấy sự lạ lùng, bèn nhặt lên đem trình vua. Cầm bức truyền thần, vua ngắm
nghía mãi không chán mắt, bụng bảo dạ: "Trong ba cung sáu viện của ta đã
có nhiều người đẹp, nhưng chưa có người nào đẹp bằng người đàn bà trong
tranh này. Hẳn là trời sai con quạ đến mách cho ta đây!".
Lập tức vua ra lệnh cho một quan đại thần và một trăm thị vệ phải tìm cho
được người đàn bà như đã vẽ trong tranh mang về. Quan đại thần cho người
về các địa phương sục sạo khắp hang cùng ngõ hẻm. Để việc tìm tòi có hiệu
quả, chúng bày ra trò mở hội ở các vùng chúng đến để cho mọi người đổ về
xem. Mỗi lần thấy dân tập hợp đông đúc, chúng đưa bức tranh ra giả tảng nói
là tình cờ bắt được, người nào mất thì đến mà nhận.
Một hôm, chúng tới vùng quê hai vợ chồng anh chàng có lọ nước thần và
cũng bày trò mở hội ba đêm ngày. Quả nhiên anh chàng sa vào mưu gian.
Khi nhìn thấy bức tranh anh không đắnđo gì cả, lật đật bước tới để nhận.
Nhưng anh không ngờ bọn lính chộp lấy anh như chộp con mồi. Chúng theo
anh về nhà vàtìm thấy ngay người đàn bà trong tranh. Mừng quá chúng vội
đưa kiệu rước người vợ về Kinh đô, mặc cho người chồng vật mình than
khóc.
Sau khi bị bắt vào cung, người đàn bà không cười không nói, áo đẹp
không mặc, đầu không chải và không cho một ai đến gần. Đem được người
đẹp về cung, nhà vua hết sức mừng rỡ, nhưng cũng hết sức buồn phiền vì mọi
thứ dỗ dành, dọa nạt đều không thể làm cho người ngọc nở một nụ cười. Vua
bèn hạ lệnh cho thông báo trong dân chúng, hễ ai có cách gì làm cho nàng
cười nói lên được, thì sẽ ban thưởng cho quan cao lộc hậu. Nghe tin này, có
nhiều người, từ những vai hề nổi tiếng, những ông trạng cười cho đến các bậc
lương y, các pháp sư phù thủy v.v... đua nhau trẩy Kinh hy vọng dùng tài
phép làm cho người đàn bà phải buột miệng nói cười để mong ân thưởng.
Nhưng dù đã giở mọi trò, đều vô hiệu.
Lại nói chuyện anh chồng từ khi vợ bị quan quân bắt đi thì không còn
thiết làm ăn gì nữa. Khi nghe tin loan báo ai làm cho người đẹp trong cung
nói cười được thì vua sẽ ban thưởng, anh biết là vợ mình đang ở cung vua,
bèn quyết vào Kinh tìm vợ. Trước khi đi, anh nhổ mấy củ hành ở cạnh giếng
buộc làm một gánh, quảy theo. Đến Kinh đô, anh quảy gánh của mình đi lại
trước hoàng cung rao to lên những câu:
Dọc bằng đòn gánh
Củ bằng bình vôi
Ai mua hành tôi
Thì thương tôi với!
Tiếng rao của anh vọng vào cung mỗi lúc một to. Nét mặt của vợ anh
cũng mỗi lúc một tươi. Cuối cùng, nàng quay lại bảo thị nữ:
- Hãy gọi người bán hàng vào cho ta!
Khi nhìn thấy mặt chồng, vợ anh cười lên một tiếng. Thấy người đàn bà
lần đầu tiên cười nói, vua sung sướng như mở cờ trong bụng; lại thấy những
cây hành to lớn lạ thường thì lấy làm kinh ngạc. Vua ngỡ là nhờ những cây
hành kỳ lạ này mà người đẹp nói cười. Vua liền nảy ra ý nghĩ muốn tự mình
cải trang thành người bán hành để làm vui lòng người đẹp. Vua bảo anh
chồng:
- Hãy đặt gánh hành lại đó và cởi áo ra mau!
Vua cởi áo long bào vứt cho anh và mặc áo của anh. Vua còn bắt anh bày
cho mình học thuộc câu rao, rồi quảy gánh qua lại trước mặt người đàn bà,
cất tiếng rao mới học được. Thấy vậy, vợ anh hàng hành cười ngặt nghẽo.
Vua thích thú lại càng làm già. Nhưng đột nhiên người đàn bà bảo thị nữ thả
đàn chó ra. Chó thấy vua ngỡ là người lạ liền nhảy xổ tới cắn chết. Người đàn
bà vội bảo chồng:
- Mình hãy mau mau ngồi lên ngai vàng đi!
Anh chồng lật đật trèo lên ngai vàng giữa lúc trăm quan và cung nữ dập
đầu bái lạy. Từ đó anh làm vua và sống hạnh phúc trọn đời bên vợ.
Nguồn: Hợp tuyển Truyện cổ tích Việt Nam,
Lữ Huy Nguyên - Đặng Văn Lung sưu tầm và biên soạn,
Nxb. Giáo dục, H., 1996.
TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM
CHỌN LỌC
Nhiều Tác Giả
www.dtv-ebook.com
Bảy Chàng Trai Khỏe Mạnh
Ngày xửa ngày xưa, có nhà kia giàu của nhưng rất hiếm con.
Hai người cầu trời khấn Phật mấy mươi năm mới sinh được một đứa con.
Em bé mới lọt lòng mẹ, răng đã mọc đủ hai hàm, chẳng cần bú sữa và ăn mỗi
bữa hết một nồi ba cơm. Đầy một tuổi em đã cao lớn, khỏe mạnh chẳng ai
bằng và mỗi bữa ăn đến mấy thùng cơm mới no bụng. Cha mẹ em nghi con là
yêu quái, bàn nhau tìm cách bỏ em vào rừng. Hôm đó, người cha đưa con vào
rừng, vác theo một cái thuổng. Thấy có một tảng đá to, đứng chênh vênh,
người cha bảo con:
- Con vác hòn đá này về lót cho mẹ rửa chân!
Em bé ghé lưng vào hòn đá. Người cha lấy thuổng bẩy. Hòn đá đè em bé
xuống đất. Người cha cứ lững thững vác thuổng về. Còn đứa con tưởng mẹ
cần hòn đá thật nên cặm cụi vác về sau. Đến chiều, vợ chồng đang ngồi bên
mâm cơm trò chuyện thì em bé vác hòn đá về, ném bên giếng nước, rồi vào
trách cha:
- Hòn đá nặng thế mà cha không giúp con một tay. Nó đè lún con xuống
đất, con phải moi mãi mới vác về được.
Bố mẹ kinh ngạc, ăn chẳng được, bỏ dở bữa cơm. Nhưng tối hôm đó, hai
người lại bàn kế khác. Sáng ngày, người cha lại vác một cái rìu đưa con vào
rừng. Trông thấy một cây gỗ to hai người ôm không xuể, người cha ra sức
chặt từ sáng đến nửa buổi chiều. Lúc cây gỗ sắp ngã, người cha bảo con:
- Con ghé lưng vào đây, vác cây gỗ này về, để cha cưa ra làm mấy bộ ván.
Em bé ghé lưng vào. Cây gỗ ngã uỳnh xuống, em bé bị lấp mất trong đống
tán lá um tùm. Người cha vội vàng vác rìu chạy một mạch về nhà, người vợ
đã ngồi chờ bên mâm cơm. Ăn chưa xong bữa cơm, đã nghe em bé đứng
ngoài ngõ gọi:
- Mở cửa cho con. Sao cha về mà không bảo, để con cứ chờ mãi.
Cha mẹ em sợ hãi. Vợ trách chồng, chồng gắt vợ đổ lỗi cho nhau. Em bé
đứng ngoài cửa nghe, mới biết mình bị cha mẹ lừa vì họ tưởng mình là yêu
quái. Em tự bảo nếu cứ ở nhà sẽ xảy ra những điều không lành nên lẳng lặng
vứt cây gỗ trước cửa rồi bỏ đi.
Làng trên xóm dưới chẳng ai quen thuộc, lang thang dọc đường một lúc,
em bé nhằm cánh đồng trước mặt đi thẳng tới. Lúc đó đang hạn hán, đã đến
mùa cày mà trời không mưa. Mọi người phải ra sông đắp đập, đưa nước vào
đồng. Em bé đến đây, thấy trong đám đông có hai người khỏe lạ thường. Một
người đứng bẻ gỗ để làm cọc. Người thứ hai đang đóng cọc. Anh này có cái
nắm tay rất rắn và khỏe bằng hàng trăm chiếc vồ. Những cây gỗ của anh kia
bẻ vừa ném sang anh nhặt cắm xuống đất, đưa nắm tay ra làm vồ đóng. Anh
đóng một nhát, cây gỗ lún xuống đến vài gang tay. Em bé muốn làm quen với
hai anh này nhưng chưa biết bằng cách nào, thì lại có một người xăm xăm
bước tới chỗ đập nước. Hai bàn tay anh to như hai chiếc xẻng. Thấy anh kia
lấy tay làm vồ đóng cọc, anh muốn thử sức, liền lặn xuống nước, lần đến, đưa
bàn tay chắn ngang cây gỗ anh kia đang đập. Cây gỗ đang lún xuống đất,
bỗng dừng hẳn lại. Anh có nắm tay khỏe ra sức giáng liền mấy mươi đấm
một lúc, thanh gỗ vẫn không chuyển được chút nào. Anh này tức mình, lặn
xuống nước, sờ lần theo cây cọc, nắm được bàn tay, lôi anh kia lên, làm dữ:
- Tao phải đóng xong cái kè này, mới được làng cho ăn một bữa cơm, thế
mà mày phá tao, tao phải đánh mày.
Anh bẻ gỗ cũng chạy lại bênh anh đóng cọc:
- Tao phải bẻ năm xe gỗ, mới được trả một nồi ba gạo công, mà mày ngăn
lại, không cho nó đóng, thì ai còn thuê tao bẻ gỗ nữa?
Ba người gầm ghè nhau, người toan vác gỗ đâm, người đưa nắm tay ra
đấm, anh có bàn tay to, định dùng bàn tay mình làm cái xẻng, xúc hai anh kia
đổ đi chỗ khác. Em bé chạy lại can. Đang cơn nóng nảy, anh bẻ gỗ và anh
đóng cọc muốn đánh cả em. Em bé chạy vào giữa ba người nói:
- Tôi nhỏ, các anh lớn... các anh đánh, tôi thua thôi. Nhưng hãy nghe tôi
hỏi đã. Hai anh đã nói phải đi bẻ gỗ, đóng cọc thuê kiếm ăn. Tôi thì có cha
mẹ, nhưng cha mẹ tôi sợ tôi là yêu quái, ăn hết của, nên đem bỏ tôi. Vậy
chúng ta cùng cảnh nghèo sao không thương nhau còn đánh nhau? Còn anh
có bàn tay to như cái xẻng, tại sao không cho anh này đóng cọc?
Anh có bàn tay to gắt gỏng:
- Hai bàn tay tao khỏe bằng hàng trăm chiếc xẻng. Tao vỡ không biết bao
nhiêu ruộng nhưng vỡ được bao nhiêu bọn nhà giàu tranh hết bấy nhiêu! Tao
vỡ chỗ nào, chúng bảo chỗ ấy là đất của chúng. Tức quá, tao phá cái đập này,
cho ruộng chúng nó bị khô!
Nghe anh này nói, hai anh kia hết giận, em bé lại bảo:
- Chúng ta đều thiếu ruộng, thiếu cơm, bị người khác hà hiếp, vậy đừng
giận nhau nữa, hãy kết bạn đi kiếm nơi làm ăn.
Ba người đều khen em bé nói phải, bằng lòng kết làm anh em. Họ đặt lại
tên nhau cho dễ gọi, và thi tài để chọn người đứng đầu. Em bé kia ngồi
xuống, cho các anh chất lên vai mười tảng đá bằng cái máng lợn. Em đứng
thẳng dậy, chạy mười vòng xung quanh một đám ruộng to. Mấy anh kia bảo
em khỏe nhất, lại có lời nói khôn, đáng làm người đứng đầu. Anh bẻ gỗ được
xếp thứ hai, anh đóng cọc thứ ba, anh có bàn tay xẻng thứ tư.
Bốn người từ giã đồng bằng, theo dòng sông đi ngược lên nguồn, kiếm đất
làm ăn. Đi nửa ngày thấy có nước sông vọt lên ruộng ầm ầm, cột nước to
bằng năm, bảy người tát một lúc. Bốn người không biết chuyện gì, liền đến
xem. Thấy giữa sông có một người đang khom lưng, há mồm hút nước phun
lên những đám ruộng lúa đang khô nẻ.
Vác đá đến gần hỏi:
- Ruộng hai bên bờ sông này đều là của anh chăng? Đến mùa gặt, chắc
nhà anh thừa nhiều thóc?
- Tao phải phun cho đầy nước vào hai thửa ruộng này, mới được chủ
ruộng trả cho một thúng cơm. Thúng cơm đang để kia.
Anh hút nước lại hỏi bốn người:
- Chứ chúng mày lấy đâu ra cơm ăn, mà đi chơi thong thả rảnh rang vậy?
Bốn người kia nói lại cảnh khổ và ý định của mình. Anh hút nước nhảy
vọt lên bờ:
- Thế thì chúng mày phải cho tao theo. Tao cũng khổ như chúng mày!
Anh hút nước nhập bọn. Đến chiều, năm người rẽ vào rừng ngồi dưới gốc
cây nghỉ chân. Lại thấy một người đến chỗ có hai cây gỗ to đứng gần nhau kề
hai vai vào hai cây nhổ bật gốc lên, vác cả cây lẫn cành ra về. Năm người kia
nhìn theo, ai cũng tặc lưỡi. Vác đá đứng dậy, ướm hỏi:
- Vội gì mà anh không chặt bỏ cành, bỏ gốc vác cho nhẹ?
Nghe tiếng người nói, anh nhổ cây quay lại để nguyên hai cây gỗ trên vai,
nói:
- Hai cây gỗ chỉ đổi được có nửa thúng thóc, thì chặt gốc chặt ngọn làm gì
cho mệt?
Vác đá nói:
- Anh bị lừa rồi. Vác cả gốc, cả ngọn thì nặng vai anh, mà người đổi được
lấy cành làm củi đun.
- Mày còn bé mà đã khôn hơn tao. Không gặp mày tao chưa biết tao bị
lừa.
- Chúng tôi cũng nghèo, cũng bị lừa như anh, bây giờ rủ nhau đi làm. Anh
có đi thì đi cùng.
- Tại sao tao lại không đi. Chúng mày đã cho tao biết tao bị lừa, chắc
chúng mày không lừa tao. Chúng mày đi đến đâu, tao cũng theo.
Sáu người lại dắt nhau đi. Tối hôm sau, cả sáu người cùng bẻ lá lót dưới
gốc cây, nằm ngủ trong rừng. Sáng ngày đã thấy một người vác một bó lao
đuổi theo đàn nai. Đàn nai hơn mười con đều bị anh đuổi theo, phóng lao giết
chết hết. Sáu người cùng chạy ra xem. Vác đá cất tiếng hỏi:
- Mỗi lần được bằng ấy nai, chắc nhà anh giàu lắm?
- Voi tao phóng còn chết nữa là nai. Nhưng tao có ăn thịt trừ cơm được
đâu mà giàu! Một con nai chúng chỉ đổi cho tao một thúng thóc. Một con voi
có ngà, cũng chỉ đổi được có một cái áo rách. Mà voi, nai đâu có phải ngày
nào cũng tìm được! Cái thằng chủ rừng ấy ác lắm! Tao săn được bao nhiêu
nó cũng bắt phải đổi rẻ cho nó.
Vác đá kể cảnh nghèo cho anh chạy giỏi nghe. Bẻ gỗ cũng nói:
- Tao giống như mày đấy, ngày nào tao cũng nhổ bốn cây gỗ, mà đổi
chẳng đủ gạo ăn, tao mới gặp chúng nó hôm qua. Chúng nó cũng là người
nghèo mà khôn. Tao ngủ chung với chúng nó một đêm rồi, tao biết, chúng nó
tốt lắm. Mày nên nhập bọn đi làm ăn với chúng tao.
Anh kia chẳng chút lưỡng lự, xin nhập bọn luôn. Thế là trong bọn đã có
bảy người. Bảy anh em bẻ nứa kéo lửa nướng thịt nai ăn no nê rồi đi về phía
mặt trời lặn.
Trên dãy núi kia có một vùng đất rộng, bằng phẳng như mặt nước trong
hồ. Chỗ này trước kia có xóm làng đông đúc. Những con yêu tinh trong núi
hay ra bắt người, bắt cả trâu bò, heo, dê. Nó lại có phép tự hóa to ra, hoặc thu
nhỏ mình lại. Tiếng nó gầm to như sấm rền. Bắt được đàn ông, đàn bà thì nó
ăn thịt, con gái đẹp thì nó để làm vợ. Dân làng khiếp sợ con yêu tinh này bỏ
đi tản mác mỗi người một nơi. Bảy chàng trai khỏe vào đây thấy nhà cửa xác
xơ, nồi chậu lăn bừa bãi. Bảy anh đi chặt cây, cắt lá gianh làm nhà ở, rồi ra
công trồng tỉa.
Đất mới nhà thưa, chẳng ai tranh giành lừa lọc. Lúa của họ xanh mát mắt,
bầu bí bỏ ngọn um tùm. Người làng đi về trông thấy có các anh, đều lần lượt
trở về làm nhà ở gần, dựa sức nhau làm ăn.
Con yêu tinh thấy làng cũ đông người, lại lần đến. Nó biến thành một con
vật hình thù kỳ quái, ba đầu sáu tay, mười hai mắt, thân xám như tro, to như
đống rơm, tiếng thét vang như sấm. Dân làng sợ hãi, chạy ùa vào nhà bảy
anh. Con yêu tinh tưởng như mọi ngày, ùa theo đuổi bắt. Bảy anh khỏe tản ra
sân. Con yêu tinh bổ vào, bị anh đóng cọc thụi cho một thụi vào đầu. Bị đánh
một cái mạnh bằng hàng trăm chiếc búa bổ, con yêu tinh thụt ngay cái đầu
đau vào thân, né sang bên kia. Anh bẻ gỗ vớ tay nó, bẻ liền. Tay con yêu tinh
gãy lủng lẳng. Anh vác đá lại vác một tảng đá to như cái giường ném mạnh
vào giữa lưng nó. Nó rùng mình, hóa cánh bay lên. Anh chạy giỏi đã rút được
cái đòn tay nhà, làm lao phóng theo. Cái lao đâm trúng giữa mồm con yêu
quái. Nó rú lên một tiếng rồi bay vụt vào núi.
Bị một trận đòn đau, con yêu quái thù bảy chàng trai trẻ nhưng không dám
đến làng. Nó bèn bay trên cao, hóa lửa phun xuống đốt nhà. Lửa bốc lên cao,
khói mù mịt, cháy lan từ nhà này sang nhà khác, sang cả núi rừng. Anh hút
nước phải ra sông hút nước tưới. Anh tay xẻng dùng hai bàn tay xúc đất đổ
vào. Anh bẻ gỗ nhổ từng bụi cây dập lửa trên những ngôi nhà bị cháy dở.
Con yêu quái lại hóa lửa đốt phá mùa màng. Bảy chàng khỏe tức lắm, rủ
nhau đi tìm chỗ nó ở.
Bảy người tìm khắp núi rừng, không gặp con yêu tinh nhưng thấy lối nó
đi. Bảy chàng bứt dây rừng bện lại to bằng cây cột giăng ngang đường. Ba
người giữ một đầu dây, còn một người đứnglàm hiệu.
Trăng lên, con yêu tinh từ trong động đi ra. Bị vướng dây nó ngã sấp.
Nhưng bảy người vừa chạy lại, nó đã bới đất chui xuống. Anh tay xẻng liền
dùng hai tay bới theo. Bàn tay xén một nhát ước đến mười gánh đất. Con yêu
tinh cũng khỏe, anh kia càng xén, nó càng chui sâu. Anh hút nước liền đi hút
nước đổ vào đó. Nhưng sông ở xa, nước chưa đủ làm cho con yêu tinh ngạt
đã thấm hết vào đất. Anh chạy giỏi, chạy nhanh như gió cõng anh hút nước đi
cho nhanh nên chỉ một buổi, nước đã ngập đầy lỗ, con yêu tinh quay đầu nhoi
ngược lên. Bảy anh khỏe xúm lại đánh, nhiều người, lộn xộn quá, con yêu
tinh thoát ra được. Anh bẻ gỗ chỉ kịp bẻ một cây gỗ phang nó què một chân.
Bị què một chân mà con yêu tinh chạy còn nhanh hơn con hươu rừng.
Xong anh chạy giỏi vẫn đuổi theo sát gót nên nó chẳng kịp hóa cánh, cứ lê
cái chân què chạy về động.
Động con yêu tinh rất nhiều hang, lại lắm ngóc ngách. Anh chạy giỏi theo
đến cửa, nó đã chui vào trong. Không biết nó chui ngách nào. Chạy giỏi lấp
cửa hang rồi trở về gọi thêm sáu người bạn. Bảy anh chàng khỏe vào phá
động. Cái động cao như núi, hang hố ngoằn ngoèo, bị bảy chàng trai bới tung.
Mùi trong hang bay ra tanh hôi khó chịu. Vào hang, bảy chàng trai thấy có
nhiều người ngồi ủ rũ xanh xao. Bảy chàng khỏe vừa đưa những người kia ra
một đoạn, lại nghe có tiếng khóc ở ngách bên mà không thấy đường vào. Họ
phải dùng sức vần những tảng đá sang bên. Bên trong tảng đá có một cái
hang rộng. Hai mươi mốt cô gái ngồi trong khóc than. Con yêu tinh đã chọn
những người con gái đẹp này nhốt riêng. Mỗi khi ra ngoài, nó lấy đá lấp kín
cửa lại.
Cứu được người mà chẳng thấy con yêu tinh. Bảy chàng trai tìm mãi mới
thấy nó chui vào kẽ đá. Kẽ đá rất chặt. Con yêu tinh rúc mãi vào trong, tay
bấu vách đá như con kỳ đà, mồm rúc vào túi phép đeo trước ngực. Túi phép
đó đã hết thiêng từ lúc bị vấp dây ngã sấp xuống đất nên nó hóa mãi mà
chẳng được gì. Nhưng sức nó còn khỏe lắm. Bảy chàng đã nắm được chân nó
mà không lôi ra được, nên mỗi người lại phải trổ tài riêng. Cuối cùng, con
yêu tinh nằm trơ ra. Bảy chàng nổi lửa đốt xác nó, rồi đưa những người được
cứu sống trở lại làng.
Con yêu tinh bị giết, chẳng bao lâu những người trốn tránh xa gần đều trở
về nhà cũ. Cái làng hoang vắng xưa kia nay lại đông đúc yên vui. Lúa lại
xanh đồng, khoai tươi tốt, trâu dê đầy chuồng. Nhớ ơn cứu sống, hai mươi
mốt cô gái đẹp lấy bảy chàng trai khỏe làm chồng. Bảy người sinh con đẻ
cháu chật nhà mà không bị lừa lọc đói khổ như xưa.
(Truyện cổ dân tộc Chăm)
Phạm Xuân Thông và Quảng Đại Cường sưu tầm, biên soạn.
Nguồn: Truyện cổ tích Việt Nam hay nhất, tập 2,
Nguyễn Cừ tuyển chọn, Nxb. Văn học, H., 2002.
TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM
CHỌN LỌC
Nhiều Tác Giả
www.dtv-ebook.com
Bầu Tiên Và Gậy Rút
Ngày xưa ở làng Thọ Vực (thuộc xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh
Thanh Hóa bây giờ) có một gia đình nghèo sinh được mấy người con, trong
số đó, người con thứ hai đặt tên là Trịnh Phát Giác. Giác là một chú bé kháu
khỉnh và thông minh lắm. Ngày ngày, chú thường chăn bò ở ven núi đầu làng
với chúng bạn. Các chú thường nhận thấy là cứ đến phiên chợ Giáng thì có
một ông già xách bị, cầm gậy đi qua bãi cỏ. Có lúc ông cụ đi thẳng, nhưng
cũng có lúc ông cụ ngồi xuống nghỉ chân vài ba khắc. Lần nào ngồi nghỉ ông
cũng đều ngắm nghía từng chú bé một và lẩm bẩm những gì không rõ. Một
hôm, Trịnh Phát Giác bạo dạn chạy lại, hỏi cụ:
- Cụ ơi! Cụ ở đâu mà phiên chợ nào cũng qua lại và nghỉ ở đây thế?
Ông cụ gật gù thầm nghĩ: "Thằng bé này khá lắm", và trả lời:
- Lão ở xa lắm. Lão đi chợ qua đây thấy các cháu chơi vui thì nhìn một tí.
Cháu có muốn gánh đỡ cho lão không? Cứ gánh đi tới chợ, lão mua bánh
cho.
Phát Giác gật đầu đồng ý, bảo với chúng bạn:
- Chúng mày ơi! Giữ hộ bò tao với nhé. Chờ tao đi xem chợ một chốc.
Rồi ông cụ cho bánh tao đem về cho mà ăn.
Quả thật, chiều về, Trịnh Giác mang theo cho chúng bạn rất nhiều quà
bánh. Mấy phiên chợ sau, ông lão cũng vẫn đi qua và cũng rủ Phát Giác đi
chợ như vậy. Đã có đôi lần, một vài chú bé khác xin đi thay, nhưng đứa nào
cầm đến chiếc bị của ông cụ cũng đều kêu nặng, không tài nào xách lên nổi,
cả những đứa lớn khỏe hơn Phát Giác rất nhiều cũng vậy. Chúng lấy làm lạ
hỏi ông cụ:
- Cụ ơi! Cụ bỏ cái gì vào trong bị mà nặng thế?
Ông cụ mở bị lôi ra quả bầu:
- Có gì đâu, chỉ có quả bầu lão đựng nước uống đi đường đấy mà.
- Thế sao Phát Giác nó xách nổi, mà chúng cháu xách không nổi?
- Chẳng phải thế, có lẽ Phát Giác nó xách quen rồi đấy thôi! - Ông cụ trả
lời qua quýt.
Bọn mục đồng không tin, nhưng cũng không hỏi thêm nữa. Chúng nhìn
theo ông lão bước đi thoăn thoắt và Phát Giác nhẹ nhàng theo sau mà vừa lạ
lùng, vừa thèm muốn. Hôm ấy, mãi đến xế chiều vẫn không thấy ông lão và
thằng bé về. Chúng chờ mãi không được, đuổi bò về cho Phát Giác và đến kể
cho gia đình nghe. Bố mẹ Phát Giác hoảng hốt chạy bổ đi tìm, nhưng tìm
khắp cả mọi nơi đều không thấy con đâu cả. Sáng hôm sau cũng không thấy
Phát Giác về. Liên tiếp đến hàng năm vẫn bặt tin tức. Mẹ Phát Giác khóc lóc
khổ sở, đành chịu mất con.
Nhưng thật ra, chiều hôm ấy, Phát Giác vẫn đi với ông lão. Ra đến chợ,
ông lão bảo Phát Giác đứng chờ, để ông lão đi bán thuốc. Mãi đến sẩm tối
mới thấy ông lão ra và hai ông cháu trở về. Thấy bạn bè đã về hết, Phát Giác
khóc và bảo ông cụ:
- Cụ dẫn cháu đi lâu thế này, về nhà mẹ cháu đánh cháu chết mất.
Ông cụ khuyên nhủ:
- Thôi, trời đã tối rồi, cháu về nhà lão ở, mai lão dẫn cháu về, nói rõ câu
chuyện, bố mẹ cháu không mắng đâu.
- Nhà cụ ở đâu?
- Ở đây thôi.
Vừa nói, ông cụ vừa mở bị lấy quả bầu ra, bảo Phát Giác nhìn vào trong
ấy. Một quang cảnh lạ lùng diễn ra trước mắt chú bé ngây thơ. Đây là cả một
thế giới riêng có làng xóm, nhà cửa hẳn hoi, ánh mặt trời chiếu xuống khe
núi. Trên hàng cây dương liễu, chim hót líu lo. Ông cụ dắt Giác bước vào,
ngồi trên một phiến đá phẳng lì, mát rượi. Chú bé nhìn quanh nhìn quẩn, càng
nhìn càng thích mắt. Ông cụ lại bảo:
- Cháu đói rồi phải không? Có oản, chuối đấy, ăn đi. Ăn rồi vục nước dưới khe kia mà uống.
Ông cụ với tay lên một chiếc lẵng treo cạnh cành cây, bên phiến đá, lấy ra
một mẩu oản nhỏ xíu và vươn mình sang hàng chuối trước mặt, bẻ cho Phát
Giác một quả. Phát Giác lúc đầu cho rằng ăn có chừng ấy thì chẳng bõ bèn gì,
nhưng cầm lấy phần oản, chú chưa ăn hết được một góc đã thấy no. Quả
chuối vừa bóc ra thì mùi hương thơm phức, vị ngọt mà thanh. Thực chưa bao
giờ chú được ăn món quà đặc biệt như thế. Ông lão mỉm cười, giảng giải:
- Cái oản cháu ăn đó, làm bằng thứ nếp vạn thọ người đời không có đâu.
Các thứ hoa quả ở đây đều là của tự nhiên không vướng gì trần tục, nên mới
có mùi hương như vậy.
Rồi ông cụ dắt Phát Giác đứng dậy, dạo chơi ven bờ suối. Ông cụ chỉ dải
cát lấp lánh bên bờ mà bảo chú bé:
- Cháu có thấy những gì đó không? Vàng bạc cả đấy! Ở nơi bố mẹ cháu ở,
được một viên nho nhỏ như thế là quý vô cùng. Nhưng ở đây thì chỉ là một
thứ sỏi đá.
Như sực nhớ ra điều gì, Phát Giác quay lại hỏi ông cụ:
- Cháu nhớ vừa mới rồi, cụ dắt cháu ở chợ về thì trời đã sẩm tối. Sao bây
giờ ở đây lại như đang còn vào buổi sáng hở cụ?
- Ở đây không có ngày tháng gì cả. Trời đất lúc nào cũng như bây giờ. Có
cả mặt trăng, mặt trời cùng một lúc. Cháu có muốn xem cảnh trăng thì đi theo
lão.
Ông cụ dắt Phát Giác đi vào phía sau. Quả nhiên ở đây là một cảnh trí
khác lung linh, huyền ảo, ánh trăng bàng bạc chiếu xuống hàng cây đỏ, bãi
cát xanh. Thấp thoáng xa xa có ngọn đèn chập chờn của một xóm quê ẩn hiện
dưới làn sương mỏng. Phát Giác càng xem càng thích, càng thấy cảnh sắc êm
đềm, tươi đẹp. Em lại hỏi ông cụ:
- Sao cháu thấy có xóm làng mà không thấy có người nào cả.
Ông cụ đáp:
- Có chứ, ở đây có rất nhiều người, nhưng người ở đây đều là tiên cả.
Cháu đã nghe nói đến tiên bao giờ chưa? Họ cũng làm lụng, ăn uống, trò
chuyện như người đời. Có điều là họ không có hạng giàu hạng nghèo, kẻ trên
người dưới. Ai cũng làm lấy mà ăn, không cãi cọ tranh giành, mọi người đều
vui vẻ. Của cải, vật dụng dồi dào, không có chuyện trộm cắp xấu xa, không ai
có của riêng của để. Họ ra chơi luôn, đông như ngày hội, rồi đây cháu sẽ được gặp.
Ở trong thế giới ấy với ông cụ được ít lâu, Trịnh Phát Giác nhớ nhà quá.
Em nói với ông cụ xin về thăm bố mẹ và các em. Em còn muốn đưa bố mẹ và
các em vào trong này xem cảnh. Ông cụ ra ý không vui.
- Cháu về à? Nhà cháu bây giờ xa lắm đấy. Cháu về làm gì nữa? Cháu
không muốn ở đây sao?
- Cháu muốn ở đây lắm. Nhưng cháu còn các em, cháu nhớ các em cháu.
Và cháu còn bố mẹ cháu.
Ông cụ không ngăn được, bèn đưa cho em một cái gậy và một phẩm oản:
- Lão bận lắm, còn phải làm thuốc. Bây giờ cháu cứ cầm cái gậy này mà
đi ra. Nơi nào không đi được thì cứ cầm gậy trỏ xuống đất thì sẽ vượt qua
mau chóng.
Trịnh Phát Giác cầm lấy gậy và oản, chào ông cụ đi ra. Chú bé nhặt mấy
viên sỏi đẹp bên khe suối bỏ vào túi, định về cho em chơi và khoe với chúng
bạn. Được mấy bước, chú ra khỏi quả bầu, ngoảnh mặt lại thì không thấy ông
cụ, nhà cửa, khe suối đâu nữa. Trước mặt chú là những dãy núi cao chót vót,
làng mạc thôn xóm thì ở đâu xa tít chân trời. Phát Giác hoảng sợ, cầm gậy trỏ
xuống đất. Bỗng nhiên chú thấy thân mình cất bổng lên cao, hai bên tai gió
quạt vù vù. Chỉ trong chớp mắt, quay đầu gậy lại, chú đã thấy mình đứng ở
đầu làng Thọ Vực. Chú mới biết rằng đó là chiếc gậy thần tiên để rút đất và
ông cụ quả thật là một thần nhân.
Phát Giác lần theo lối cũ đi vào làng, về nhà mình. Chú chắc mẩm sẽ được
gặp cha mẹ, anh em, nhưng lạ thay, không thấy một ai quen thuộc. Một cụ già
ra đón chú, hỏi chuyện, và trả lời một cách kinh ngạc:
- Trước đây hàng trăm năm, tôi có nghe cụ tổ nhà tôi kể có một người con
trai thất lạc từ thuở bé, tên tuổi đúng như cậu. Bây giờ đã gần ba đời rồi kia
mà.
Cả họ hàng làng xóm kéo đến. Phát Giác hỏi đến những người bạn chăn
bò chăn trâu thuở trước thì đã mất cả rồi. Phát Giác kể lại câu chuyện trong
chiếc bầu tiên. Ai nấy đều lấy làm kinh dị. Một ông lão nói:
- Thôi thế chính là cậu đã được đi vào cõi tiên rồi. Tôi nghe nói một ngày
trên trời dài bằng cả năm dưới hạ giới. Chúng tôi đây chỉ là hạng con em,
cháu chắt của cậu thôi.
Trịnh Phát Giác hoang mang, không biết xử trí ra sao cả. Cậu móc túi lấy
mấy viên sỏi ra, nhưng vừa đặt lên tay thì sỏi đã thành những cánh hoa bay
mất. Buồn rầu, cậu cắm chiếc gậy xuống đất. Chiếc gậy bỗng hóa thành ra
một con rồng, cậu bé trèo lên lưng rồng và bay đi. Nơi cắm chiếc gậy nổi lên
một dãy núi đá có cửa hang mở rộng. Người làng đi vào trong hang thấy cảnh
trí thần kỳ, có đường đi mãi vào trong. Họ quay về hỏi những người tinh
thông sách vở. Một cụ đồ tra điển tích...
 








