Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập, làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động lớn: Cuộc vận động “Hai không”, “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.

CHỦ ĐỀ NĂM HỌC 2018-2019

Thư điện tử




Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Cổ tích Việt Nam

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Trần Thị Thơi
    Ngày gửi: 23h:29' 11-04-2024
    Dung lượng: 2.7 MB
    Số lượt tải: 5
    Số lượt thích: 0 người
    Mục lục
    Ai Làm Ra Lửa
    "Ai Mua Hành Tôi" Hay Là "Lọ Nước Thần"
    Bảy Chàng Trai Khỏe Mạnh
    Bầu Tiên Và Gậy Rút
    Cái Ang Vàng
    Cái Trống Thần
    Cây Tre Trăm Đốt
    Chàng Ná
    Chàng Mồ Côi Và Quan Tể Tướng
    Chàng Mồ Côi Mất Tai, Mất Tóc
    Chàng Rể Cóc
    Chàng Trai Thật Thà
    Chiếc Cầu Phúc Đức
    Chử Đồng Tử
    Con Út Vua Trời Và Ống Thuốc Thần
    Con Chó Chín Đuôi
    Con Dâu Nhà Trời
    Con Nuôi Của Hổ
    Chiếc Đèn Dưới Hang Sâu
    Chú Cuội
    Đam Bơ
    Hai Con Vịt Vàng
    Hoàng Tử Lang Liêu
    Hai Nàng Công Chúa Nhà Trần
    Hai Cây Khế
    Hoàng Tử Lấy Vợ Xấu Xí
    Lươn Thần Và Cậu Bé Nghèo Khổ
    Mồ Côi Và Nàng Tiên
    Nàng Công Chúa Nhìn Xa
    Nàng Tô Thị
    Nàng Vỏ Trứng
    Sọ Dừa
    Sự Tích Cái Vỏ Dao
    Sự Tích Chim Khướu Bạc Đầu
    Sự Tích Con Chẫu Chàng
    Sự Tích Con Dã Tràng
    Sự Tích Dưa Bở
    Sự Tích Người Làm Chúa Muôn Loài
    Sự Tích Thành Cổ Loa
    Sự Tích Các Loài Cây Trên Đỉnh Phia Mu
    Sự Tích Thần Núi Tản Viên
    Sự Tích Nàng Tiên Gạo
    Sự Tích Trái Dưa Hấu

    Sự Tích Hồ Ba Bể
    Sự Tích Cây Cọ Có Gai
    Sơn Tinh - Thủy Tinh
    Tạo Thi Thốn Và Công Chúa Út
    Thàng Cao Chúa
    Thạch Sanh
    Ỷ Thổi Đón Quan(*)

    TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM
    CHỌN LỌC
    Nhiều Tác Giả
    www.dtv-ebook.com
    Ai Làm Ra Lửa
    Ngày xưa, khi người Thượng chưa biết làm ra lửa, họ vẫn phải đi mua
    đãy. Mỗi lần mua mất một cái ché bằng vàng, bên ngoài sơn đủ màu sắc của
    các con vật trên rừng núi, tốn kém lắm.
    Một hôm, dân làng ngồi trong nhà dài (1) bỗng nghe gió đưa về tiếng
    chim kêu: "Ót ô! Ót ọ" và trong ngọn gió có những tia lửa lập lòe nhấp nháy.
    Dân làng rủ nhau đi tìm nơi sinh ra những tia lửa ấy. Họ đi vào rừng sâu,
    núi thẳm. Đi năm ngày, năm đêm thì gặp một con ruồi. Họ hỏi ruồi:
    - Ruồi ơi! Mày có thấy ai làm "Ót ô! Ót ọ!" Mà lại ra lửa không?
    - Tôi không biết đâu. Nhưng tôi sẽ đi tìm hộ dân làng.
    Nói rồi, ruồi bay đi.
    Ruồi bay đi mãi tới một cái hang thì thấy con chim dá ố (2) đang ngồi kéo
    gỗ làm lửa. Ruồi sợ dá ố trông thấy bèn nhóm mắt ở đằng khác để xem trộm,
    dá ố lấy cây da dàn (3) và một sợi lạt, phía dưới để lá khô, rồi cầm hai đầu
    kéo lên kéo xuống một lúc thì lửa bắn ra, rơi xuống lá khô, bén thành ngọn.
    Ruồi học được cách làm lửa thích chí quá, bay vù ra. Dá ố thấy động quay
    lại, biết ruồi xem trộm được cách làm lửa của mình, tức lắm. Vì ruồi sẽ vẽ
    bày cho dân làng, người ta sẽ không mua lửa của dá ố nữa.

    Dá ố đuổi bắt ruồi, đuổi lên tận trời, đuổi tận xuống đất nhưng không bắt
    được.
    Ruồi bay về bày cho dân làng cách đánh lửa của chim dá ố. Để trả ơn ruồi,
    người ta cho nó được đốt trâu. Từ đó có loài ruồi trâu, và cũng từ đó người
    Thượng đánh được lửa, biết làm bếp để nấu nước và dùng củi đốt sưởi trong
    những ngày đông tháng giá.
    (Truyện cổ dân tộc Hơ-rê)
    Nguồn: Tuyển tập văn học dân gian Việt Nam,
    Phan Trọng Thưởng và Nguyễn Cừ biên soạn và tuyển chọn,
    Nxb. Giáo dục, H., 2001
    ***
    (1) Nhà dài: Nơi hội họp của làng.
    (2) Dá ố: Một loài chim lông đỏ như lửa, kêu: Ót ô! Ót ọ.
    (3) Da dàn: Một loại cây thân xốp, cọ nóng lên thì ra lửa.

    TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM
    CHỌN LỌC
    Nhiều Tác Giả
    www.dtv-ebook.com
    "Ai Mua Hành Tôi" Hay Là "Lọ Nước Thần"
    Ngày xưa, có một anh chàng trẻ tuổi chưa có vợ, sống bằng nghề làm
    ruộng. Một ngày nọ anh xách búa lên rừng đốn củi. Trong khi đang lúi húi
    chặt cây, anh trông thấy một con quạ tha một con chim sẻ tới đậu trên một
    phiến đá ở gần chỗ mình đang làm đồng. Nhìn thấy thế, anh bỗng động lòng
    thương con chim sẻ bé bỏng đang sắp sửa lọt vào miệng loài ác điểu. Anh
    bèn nhặt hòn đá ném con quạ. Quạ giật mình bỏ mồi vỗ cánh bay lên. Tức
    mình vì hỏng ăn, quạ kêu quàng quạc om sòm. Anh nhặt đá ném thêm và
    mắng: "Đồ chim dữ! Hãy cút ngay!". Quạ hậm hực bay đi, miệng còn đe dọa
    sẽ báo thù. Anh chàng chạy lại nhặt con chim sẻ đang thoi thóp, cố tìm cách
    ấp ủ cho nó sống lại. Quả nhiên, chỉ chừng giập bã trầu, con chim sẻ đã hồi
    tỉnh và bay được. Nó cảm ơn anh và bảo anh ngồi chờ để nó đưa biếu một
    vật. Một lát sau, con chim đã bay trở lại, miệng ngậm một cái lọ bé đặt xuống
    bên cạnh và nói:
    - Đây là lọ nước thần có phép làm cho người già thì trẻ lại, vật nhỏ thì lớn
    lên, trần gian không ai có.
    Nói rồi nó vỗ cánh bay đi. Anh ngồi tần ngần mở nút ra xem thì thấy đầy
    một lọ nước mùi thơm ngào ngạt. Anh nghĩ bụng:
    - Những thứ này chỉ để cho các bà quan làm đỏm, có đâu để hạng như ta
    dùng.
    Nói rồi anh nút lọ lại cẩn thận, khi gánh củi về, treo lọ lên kèo nhà. Và rồi

    thời gian trôi qua, vì bận công việc làm ăn, anh cũng quên đi, không nghĩ tới
    cái lọ ấy nữa.
    Ít năm sau đó, chật vật mãi anh chàng mới cưới được vợ. Vợ anh cũng
    con nhà nông, quanh năm chân lấm tay bùn, nên đen đủi, xấu xí. Nhưng hai
    vợ chồng thì rất thương yêu nhau.
    Một hôm, chồng đi cày vắng, vợ ở nhà quét dọn khắp nơi. Thấy một cái lọ
    con con treo trên kèo nhà, chị bèn bắc ghế lấy xuống mở nút ra xem. Khi
    ngửi thấy mùi thơm, chị ta đồ là dầu thơm gội đầu. Lát sau, chị nấu nước tắm
    rồi tiện tay đổ lọ nước ra bôi khắp tóc tai mình mẩy. Không ngờ sau khi bôi
    xong chị ta tự nhiên trở nên xinh đẹp trắng trẻo, nhan sắc mĩ miều ít ai sánh
    kịp. Nước thần trôi xuống mấy luống hành bên cạnh giếng, khiến cho những
    cây hành cũng tự nhiên lớn phổng lên một cách lạ thường: Củ to như bình
    vôi, dọc dài bằng đòn gánh.
    Khi người chồng đi cày về nhìn mặt vợ thì ngẩn cả người cứ tưởng là tiên
    sa xuống cõi trần, nếu không có tiếng nói thì cơ hồ anh không nhận ra vợ
    mình. Nghe vợ nhắc đến lọ nước thơm, anh mới sực nhớ tới chuyện báo đền
    của con chim sẻ ba năm về trước. Nỗi mừng biết lấy chi cân, anh ngắm vợ
    mãi không chán mắt, rồi kể lại câu chuyện cũ cho vợ nghe.
    Từ đấy, anh cứ quấn quýt bên vợ không rời. Công việc đồng áng vì thế
    cũng mười phần bê trễ. Nhưng cứ ở nhà mãi thì đói mất nên anh đành phải đi
    làm. Để khỏi nhớ vợ, anh thuê thợ vẽ hình vợ. Mỗi khi ra đồng làm việc, anh
    lại treo bức tranh ở bờ ruộng để nhìn cho thỏa.
    Một hôm, anh đang cày ruộng, bức tranh được treo lên một cái cọc cắm ở
    trên bờ. Vừa cày được mươi luống, tự nhiên con quạ năm xưa ở đâu sà xuống
    quắp lấy bức tranh mang đi. Anh chàng ở bên bờ kia thấy vậy, bèn hò hét
    đuổi theo nhưng không kịp nữa. Quạ đã cất cánh bay cao và bay đi rất xa, chỉ
    một loáng đã mất hút. Báo thù việc anh ném đá giành mồi của nó khi xưa,

    quạ mang bức tranh vào đến tận Kinh đô, thả xuống sân rồng. Bọn lính thị vệ
    thấy sự lạ lùng, bèn nhặt lên đem trình vua. Cầm bức truyền thần, vua ngắm
    nghía mãi không chán mắt, bụng bảo dạ: "Trong ba cung sáu viện của ta đã
    có nhiều người đẹp, nhưng chưa có người nào đẹp bằng người đàn bà trong
    tranh này. Hẳn là trời sai con quạ đến mách cho ta đây!".
    Lập tức vua ra lệnh cho một quan đại thần và một trăm thị vệ phải tìm cho
    được người đàn bà như đã vẽ trong tranh mang về. Quan đại thần cho người
    về các địa phương sục sạo khắp hang cùng ngõ hẻm. Để việc tìm tòi có hiệu
    quả, chúng bày ra trò mở hội ở các vùng chúng đến để cho mọi người đổ về
    xem. Mỗi lần thấy dân tập hợp đông đúc, chúng đưa bức tranh ra giả tảng nói
    là tình cờ bắt được, người nào mất thì đến mà nhận.
    Một hôm, chúng tới vùng quê hai vợ chồng anh chàng có lọ nước thần và
    cũng bày trò mở hội ba đêm ngày. Quả nhiên anh chàng sa vào mưu gian.
    Khi nhìn thấy bức tranh anh không đắnđo gì cả, lật đật bước tới để nhận.
    Nhưng anh không ngờ bọn lính chộp lấy anh như chộp con mồi. Chúng theo
    anh về nhà vàtìm thấy ngay người đàn bà trong tranh. Mừng quá chúng vội
    đưa kiệu rước người vợ về Kinh đô, mặc cho người chồng vật mình than
    khóc.
    Sau khi bị bắt vào cung, người đàn bà không cười không nói, áo đẹp
    không mặc, đầu không chải và không cho một ai đến gần. Đem được người
    đẹp về cung, nhà vua hết sức mừng rỡ, nhưng cũng hết sức buồn phiền vì mọi
    thứ dỗ dành, dọa nạt đều không thể làm cho người ngọc nở một nụ cười. Vua
    bèn hạ lệnh cho thông báo trong dân chúng, hễ ai có cách gì làm cho nàng
    cười nói lên được, thì sẽ ban thưởng cho quan cao lộc hậu. Nghe tin này, có
    nhiều người, từ những vai hề nổi tiếng, những ông trạng cười cho đến các bậc
    lương y, các pháp sư phù thủy v.v... đua nhau trẩy Kinh hy vọng dùng tài
    phép làm cho người đàn bà phải buột miệng nói cười để mong ân thưởng.
    Nhưng dù đã giở mọi trò, đều vô hiệu.

    Lại nói chuyện anh chồng từ khi vợ bị quan quân bắt đi thì không còn
    thiết làm ăn gì nữa. Khi nghe tin loan báo ai làm cho người đẹp trong cung
    nói cười được thì vua sẽ ban thưởng, anh biết là vợ mình đang ở cung vua,
    bèn quyết vào Kinh tìm vợ. Trước khi đi, anh nhổ mấy củ hành ở cạnh giếng
    buộc làm một gánh, quảy theo. Đến Kinh đô, anh quảy gánh của mình đi lại
    trước hoàng cung rao to lên những câu:
    Dọc bằng đòn gánh
    Củ bằng bình vôi
    Ai mua hành tôi
    Thì thương tôi với!
    Tiếng rao của anh vọng vào cung mỗi lúc một to. Nét mặt của vợ anh
    cũng mỗi lúc một tươi. Cuối cùng, nàng quay lại bảo thị nữ:
    - Hãy gọi người bán hàng vào cho ta!
    Khi nhìn thấy mặt chồng, vợ anh cười lên một tiếng. Thấy người đàn bà
    lần đầu tiên cười nói, vua sung sướng như mở cờ trong bụng; lại thấy những
    cây hành to lớn lạ thường thì lấy làm kinh ngạc. Vua ngỡ là nhờ những cây
    hành kỳ lạ này mà người đẹp nói cười. Vua liền nảy ra ý nghĩ muốn tự mình
    cải trang thành người bán hành để làm vui lòng người đẹp. Vua bảo anh
    chồng:
    - Hãy đặt gánh hành lại đó và cởi áo ra mau!
    Vua cởi áo long bào vứt cho anh và mặc áo của anh. Vua còn bắt anh bày
    cho mình học thuộc câu rao, rồi quảy gánh qua lại trước mặt người đàn bà,
    cất tiếng rao mới học được. Thấy vậy, vợ anh hàng hành cười ngặt nghẽo.
    Vua thích thú lại càng làm già. Nhưng đột nhiên người đàn bà bảo thị nữ thả

    đàn chó ra. Chó thấy vua ngỡ là người lạ liền nhảy xổ tới cắn chết. Người đàn
    bà vội bảo chồng:
    - Mình hãy mau mau ngồi lên ngai vàng đi!
    Anh chồng lật đật trèo lên ngai vàng giữa lúc trăm quan và cung nữ dập
    đầu bái lạy. Từ đó anh làm vua và sống hạnh phúc trọn đời bên vợ.
    Nguồn: Hợp tuyển Truyện cổ tích Việt Nam,
    Lữ Huy Nguyên - Đặng Văn Lung sưu tầm và biên soạn,
    Nxb. Giáo dục, H., 1996.

    TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM
    CHỌN LỌC
    Nhiều Tác Giả
    www.dtv-ebook.com
    Bảy Chàng Trai Khỏe Mạnh
    Ngày xửa ngày xưa, có nhà kia giàu của nhưng rất hiếm con.
    Hai người cầu trời khấn Phật mấy mươi năm mới sinh được một đứa con.
    Em bé mới lọt lòng mẹ, răng đã mọc đủ hai hàm, chẳng cần bú sữa và ăn mỗi
    bữa hết một nồi ba cơm. Đầy một tuổi em đã cao lớn, khỏe mạnh chẳng ai
    bằng và mỗi bữa ăn đến mấy thùng cơm mới no bụng. Cha mẹ em nghi con là
    yêu quái, bàn nhau tìm cách bỏ em vào rừng. Hôm đó, người cha đưa con vào
    rừng, vác theo một cái thuổng. Thấy có một tảng đá to, đứng chênh vênh,
    người cha bảo con:
    - Con vác hòn đá này về lót cho mẹ rửa chân!
    Em bé ghé lưng vào hòn đá. Người cha lấy thuổng bẩy. Hòn đá đè em bé
    xuống đất. Người cha cứ lững thững vác thuổng về. Còn đứa con tưởng mẹ
    cần hòn đá thật nên cặm cụi vác về sau. Đến chiều, vợ chồng đang ngồi bên
    mâm cơm trò chuyện thì em bé vác hòn đá về, ném bên giếng nước, rồi vào
    trách cha:
    - Hòn đá nặng thế mà cha không giúp con một tay. Nó đè lún con xuống
    đất, con phải moi mãi mới vác về được.
    Bố mẹ kinh ngạc, ăn chẳng được, bỏ dở bữa cơm. Nhưng tối hôm đó, hai
    người lại bàn kế khác. Sáng ngày, người cha lại vác một cái rìu đưa con vào
    rừng. Trông thấy một cây gỗ to hai người ôm không xuể, người cha ra sức

    chặt từ sáng đến nửa buổi chiều. Lúc cây gỗ sắp ngã, người cha bảo con:
    - Con ghé lưng vào đây, vác cây gỗ này về, để cha cưa ra làm mấy bộ ván.
    Em bé ghé lưng vào. Cây gỗ ngã uỳnh xuống, em bé bị lấp mất trong đống
    tán lá um tùm. Người cha vội vàng vác rìu chạy một mạch về nhà, người vợ
    đã ngồi chờ bên mâm cơm. Ăn chưa xong bữa cơm, đã nghe em bé đứng
    ngoài ngõ gọi:
    - Mở cửa cho con. Sao cha về mà không bảo, để con cứ chờ mãi.
    Cha mẹ em sợ hãi. Vợ trách chồng, chồng gắt vợ đổ lỗi cho nhau. Em bé
    đứng ngoài cửa nghe, mới biết mình bị cha mẹ lừa vì họ tưởng mình là yêu
    quái. Em tự bảo nếu cứ ở nhà sẽ xảy ra những điều không lành nên lẳng lặng
    vứt cây gỗ trước cửa rồi bỏ đi.
    Làng trên xóm dưới chẳng ai quen thuộc, lang thang dọc đường một lúc,
    em bé nhằm cánh đồng trước mặt đi thẳng tới. Lúc đó đang hạn hán, đã đến
    mùa cày mà trời không mưa. Mọi người phải ra sông đắp đập, đưa nước vào
    đồng. Em bé đến đây, thấy trong đám đông có hai người khỏe lạ thường. Một
    người đứng bẻ gỗ để làm cọc. Người thứ hai đang đóng cọc. Anh này có cái
    nắm tay rất rắn và khỏe bằng hàng trăm chiếc vồ. Những cây gỗ của anh kia
    bẻ vừa ném sang anh nhặt cắm xuống đất, đưa nắm tay ra làm vồ đóng. Anh
    đóng một nhát, cây gỗ lún xuống đến vài gang tay. Em bé muốn làm quen với
    hai anh này nhưng chưa biết bằng cách nào, thì lại có một người xăm xăm
    bước tới chỗ đập nước. Hai bàn tay anh to như hai chiếc xẻng. Thấy anh kia
    lấy tay làm vồ đóng cọc, anh muốn thử sức, liền lặn xuống nước, lần đến, đưa
    bàn tay chắn ngang cây gỗ anh kia đang đập. Cây gỗ đang lún xuống đất,
    bỗng dừng hẳn lại. Anh có nắm tay khỏe ra sức giáng liền mấy mươi đấm
    một lúc, thanh gỗ vẫn không chuyển được chút nào. Anh này tức mình, lặn
    xuống nước, sờ lần theo cây cọc, nắm được bàn tay, lôi anh kia lên, làm dữ:

    - Tao phải đóng xong cái kè này, mới được làng cho ăn một bữa cơm, thế
    mà mày phá tao, tao phải đánh mày.
    Anh bẻ gỗ cũng chạy lại bênh anh đóng cọc:
    - Tao phải bẻ năm xe gỗ, mới được trả một nồi ba gạo công, mà mày ngăn
    lại, không cho nó đóng, thì ai còn thuê tao bẻ gỗ nữa?
    Ba người gầm ghè nhau, người toan vác gỗ đâm, người đưa nắm tay ra
    đấm, anh có bàn tay to, định dùng bàn tay mình làm cái xẻng, xúc hai anh kia
    đổ đi chỗ khác. Em bé chạy lại can. Đang cơn nóng nảy, anh bẻ gỗ và anh
    đóng cọc muốn đánh cả em. Em bé chạy vào giữa ba người nói:
    - Tôi nhỏ, các anh lớn... các anh đánh, tôi thua thôi. Nhưng hãy nghe tôi
    hỏi đã. Hai anh đã nói phải đi bẻ gỗ, đóng cọc thuê kiếm ăn. Tôi thì có cha
    mẹ, nhưng cha mẹ tôi sợ tôi là yêu quái, ăn hết của, nên đem bỏ tôi. Vậy
    chúng ta cùng cảnh nghèo sao không thương nhau còn đánh nhau? Còn anh
    có bàn tay to như cái xẻng, tại sao không cho anh này đóng cọc?
    Anh có bàn tay to gắt gỏng:
    - Hai bàn tay tao khỏe bằng hàng trăm chiếc xẻng. Tao vỡ không biết bao
    nhiêu ruộng nhưng vỡ được bao nhiêu bọn nhà giàu tranh hết bấy nhiêu! Tao
    vỡ chỗ nào, chúng bảo chỗ ấy là đất của chúng. Tức quá, tao phá cái đập này,
    cho ruộng chúng nó bị khô!
    Nghe anh này nói, hai anh kia hết giận, em bé lại bảo:
    - Chúng ta đều thiếu ruộng, thiếu cơm, bị người khác hà hiếp, vậy đừng
    giận nhau nữa, hãy kết bạn đi kiếm nơi làm ăn.
    Ba người đều khen em bé nói phải, bằng lòng kết làm anh em. Họ đặt lại
    tên nhau cho dễ gọi, và thi tài để chọn người đứng đầu. Em bé kia ngồi

    xuống, cho các anh chất lên vai mười tảng đá bằng cái máng lợn. Em đứng
    thẳng dậy, chạy mười vòng xung quanh một đám ruộng to. Mấy anh kia bảo
    em khỏe nhất, lại có lời nói khôn, đáng làm người đứng đầu. Anh bẻ gỗ được
    xếp thứ hai, anh đóng cọc thứ ba, anh có bàn tay xẻng thứ tư.
    Bốn người từ giã đồng bằng, theo dòng sông đi ngược lên nguồn, kiếm đất
    làm ăn. Đi nửa ngày thấy có nước sông vọt lên ruộng ầm ầm, cột nước to
    bằng năm, bảy người tát một lúc. Bốn người không biết chuyện gì, liền đến
    xem. Thấy giữa sông có một người đang khom lưng, há mồm hút nước phun
    lên những đám ruộng lúa đang khô nẻ.
    Vác đá đến gần hỏi:
    - Ruộng hai bên bờ sông này đều là của anh chăng? Đến mùa gặt, chắc
    nhà anh thừa nhiều thóc?
    - Tao phải phun cho đầy nước vào hai thửa ruộng này, mới được chủ
    ruộng trả cho một thúng cơm. Thúng cơm đang để kia.
    Anh hút nước lại hỏi bốn người:
    - Chứ chúng mày lấy đâu ra cơm ăn, mà đi chơi thong thả rảnh rang vậy?
    Bốn người kia nói lại cảnh khổ và ý định của mình. Anh hút nước nhảy
    vọt lên bờ:
    - Thế thì chúng mày phải cho tao theo. Tao cũng khổ như chúng mày!
    Anh hút nước nhập bọn. Đến chiều, năm người rẽ vào rừng ngồi dưới gốc
    cây nghỉ chân. Lại thấy một người đến chỗ có hai cây gỗ to đứng gần nhau kề
    hai vai vào hai cây nhổ bật gốc lên, vác cả cây lẫn cành ra về. Năm người kia
    nhìn theo, ai cũng tặc lưỡi. Vác đá đứng dậy, ướm hỏi:

    - Vội gì mà anh không chặt bỏ cành, bỏ gốc vác cho nhẹ?
    Nghe tiếng người nói, anh nhổ cây quay lại để nguyên hai cây gỗ trên vai,
    nói:
    - Hai cây gỗ chỉ đổi được có nửa thúng thóc, thì chặt gốc chặt ngọn làm gì
    cho mệt?
    Vác đá nói:
    - Anh bị lừa rồi. Vác cả gốc, cả ngọn thì nặng vai anh, mà người đổi được
    lấy cành làm củi đun.
    - Mày còn bé mà đã khôn hơn tao. Không gặp mày tao chưa biết tao bị
    lừa.
    - Chúng tôi cũng nghèo, cũng bị lừa như anh, bây giờ rủ nhau đi làm. Anh
    có đi thì đi cùng.
    - Tại sao tao lại không đi. Chúng mày đã cho tao biết tao bị lừa, chắc
    chúng mày không lừa tao. Chúng mày đi đến đâu, tao cũng theo.
    Sáu người lại dắt nhau đi. Tối hôm sau, cả sáu người cùng bẻ lá lót dưới
    gốc cây, nằm ngủ trong rừng. Sáng ngày đã thấy một người vác một bó lao
    đuổi theo đàn nai. Đàn nai hơn mười con đều bị anh đuổi theo, phóng lao giết
    chết hết. Sáu người cùng chạy ra xem. Vác đá cất tiếng hỏi:
    - Mỗi lần được bằng ấy nai, chắc nhà anh giàu lắm?
    - Voi tao phóng còn chết nữa là nai. Nhưng tao có ăn thịt trừ cơm được
    đâu mà giàu! Một con nai chúng chỉ đổi cho tao một thúng thóc. Một con voi
    có ngà, cũng chỉ đổi được có một cái áo rách. Mà voi, nai đâu có phải ngày
    nào cũng tìm được! Cái thằng chủ rừng ấy ác lắm! Tao săn được bao nhiêu

    nó cũng bắt phải đổi rẻ cho nó.
    Vác đá kể cảnh nghèo cho anh chạy giỏi nghe. Bẻ gỗ cũng nói:
    - Tao giống như mày đấy, ngày nào tao cũng nhổ bốn cây gỗ, mà đổi
    chẳng đủ gạo ăn, tao mới gặp chúng nó hôm qua. Chúng nó cũng là người
    nghèo mà khôn. Tao ngủ chung với chúng nó một đêm rồi, tao biết, chúng nó
    tốt lắm. Mày nên nhập bọn đi làm ăn với chúng tao.
    Anh kia chẳng chút lưỡng lự, xin nhập bọn luôn. Thế là trong bọn đã có
    bảy người. Bảy anh em bẻ nứa kéo lửa nướng thịt nai ăn no nê rồi đi về phía
    mặt trời lặn.
    Trên dãy núi kia có một vùng đất rộng, bằng phẳng như mặt nước trong
    hồ. Chỗ này trước kia có xóm làng đông đúc. Những con yêu tinh trong núi
    hay ra bắt người, bắt cả trâu bò, heo, dê. Nó lại có phép tự hóa to ra, hoặc thu
    nhỏ mình lại. Tiếng nó gầm to như sấm rền. Bắt được đàn ông, đàn bà thì nó
    ăn thịt, con gái đẹp thì nó để làm vợ. Dân làng khiếp sợ con yêu tinh này bỏ
    đi tản mác mỗi người một nơi. Bảy chàng trai khỏe vào đây thấy nhà cửa xác
    xơ, nồi chậu lăn bừa bãi. Bảy anh đi chặt cây, cắt lá gianh làm nhà ở, rồi ra
    công trồng tỉa.
    Đất mới nhà thưa, chẳng ai tranh giành lừa lọc. Lúa của họ xanh mát mắt,
    bầu bí bỏ ngọn um tùm. Người làng đi về trông thấy có các anh, đều lần lượt
    trở về làm nhà ở gần, dựa sức nhau làm ăn.
    Con yêu tinh thấy làng cũ đông người, lại lần đến. Nó biến thành một con
    vật hình thù kỳ quái, ba đầu sáu tay, mười hai mắt, thân xám như tro, to như
    đống rơm, tiếng thét vang như sấm. Dân làng sợ hãi, chạy ùa vào nhà bảy
    anh. Con yêu tinh tưởng như mọi ngày, ùa theo đuổi bắt. Bảy anh khỏe tản ra
    sân. Con yêu tinh bổ vào, bị anh đóng cọc thụi cho một thụi vào đầu. Bị đánh
    một cái mạnh bằng hàng trăm chiếc búa bổ, con yêu tinh thụt ngay cái đầu

    đau vào thân, né sang bên kia. Anh bẻ gỗ vớ tay nó, bẻ liền. Tay con yêu tinh
    gãy lủng lẳng. Anh vác đá lại vác một tảng đá to như cái giường ném mạnh
    vào giữa lưng nó. Nó rùng mình, hóa cánh bay lên. Anh chạy giỏi đã rút được
    cái đòn tay nhà, làm lao phóng theo. Cái lao đâm trúng giữa mồm con yêu
    quái. Nó rú lên một tiếng rồi bay vụt vào núi.
    Bị một trận đòn đau, con yêu quái thù bảy chàng trai trẻ nhưng không dám
    đến làng. Nó bèn bay trên cao, hóa lửa phun xuống đốt nhà. Lửa bốc lên cao,
    khói mù mịt, cháy lan từ nhà này sang nhà khác, sang cả núi rừng. Anh hút
    nước phải ra sông hút nước tưới. Anh tay xẻng dùng hai bàn tay xúc đất đổ
    vào. Anh bẻ gỗ nhổ từng bụi cây dập lửa trên những ngôi nhà bị cháy dở.
    Con yêu quái lại hóa lửa đốt phá mùa màng. Bảy chàng khỏe tức lắm, rủ
    nhau đi tìm chỗ nó ở.
    Bảy người tìm khắp núi rừng, không gặp con yêu tinh nhưng thấy lối nó
    đi. Bảy chàng bứt dây rừng bện lại to bằng cây cột giăng ngang đường. Ba
    người giữ một đầu dây, còn một người đứnglàm hiệu.
    Trăng lên, con yêu tinh từ trong động đi ra. Bị vướng dây nó ngã sấp.
    Nhưng bảy người vừa chạy lại, nó đã bới đất chui xuống. Anh tay xẻng liền
    dùng hai tay bới theo. Bàn tay xén một nhát ước đến mười gánh đất. Con yêu
    tinh cũng khỏe, anh kia càng xén, nó càng chui sâu. Anh hút nước liền đi hút
    nước đổ vào đó. Nhưng sông ở xa, nước chưa đủ làm cho con yêu tinh ngạt
    đã thấm hết vào đất. Anh chạy giỏi, chạy nhanh như gió cõng anh hút nước đi
    cho nhanh nên chỉ một buổi, nước đã ngập đầy lỗ, con yêu tinh quay đầu nhoi
    ngược lên. Bảy anh khỏe xúm lại đánh, nhiều người, lộn xộn quá, con yêu
    tinh thoát ra được. Anh bẻ gỗ chỉ kịp bẻ một cây gỗ phang nó què một chân.
    Bị què một chân mà con yêu tinh chạy còn nhanh hơn con hươu rừng.
    Xong anh chạy giỏi vẫn đuổi theo sát gót nên nó chẳng kịp hóa cánh, cứ lê
    cái chân què chạy về động.

    Động con yêu tinh rất nhiều hang, lại lắm ngóc ngách. Anh chạy giỏi theo
    đến cửa, nó đã chui vào trong. Không biết nó chui ngách nào. Chạy giỏi lấp
    cửa hang rồi trở về gọi thêm sáu người bạn. Bảy anh chàng khỏe vào phá
    động. Cái động cao như núi, hang hố ngoằn ngoèo, bị bảy chàng trai bới tung.
    Mùi trong hang bay ra tanh hôi khó chịu. Vào hang, bảy chàng trai thấy có
    nhiều người ngồi ủ rũ xanh xao. Bảy chàng khỏe vừa đưa những người kia ra
    một đoạn, lại nghe có tiếng khóc ở ngách bên mà không thấy đường vào. Họ
    phải dùng sức vần những tảng đá sang bên. Bên trong tảng đá có một cái
    hang rộng. Hai mươi mốt cô gái ngồi trong khóc than. Con yêu tinh đã chọn
    những người con gái đẹp này nhốt riêng. Mỗi khi ra ngoài, nó lấy đá lấp kín
    cửa lại.
    Cứu được người mà chẳng thấy con yêu tinh. Bảy chàng trai tìm mãi mới
    thấy nó chui vào kẽ đá. Kẽ đá rất chặt. Con yêu tinh rúc mãi vào trong, tay
    bấu vách đá như con kỳ đà, mồm rúc vào túi phép đeo trước ngực. Túi phép
    đó đã hết thiêng từ lúc bị vấp dây ngã sấp xuống đất nên nó hóa mãi mà
    chẳng được gì. Nhưng sức nó còn khỏe lắm. Bảy chàng đã nắm được chân nó
    mà không lôi ra được, nên mỗi người lại phải trổ tài riêng. Cuối cùng, con
    yêu tinh nằm trơ ra. Bảy chàng nổi lửa đốt xác nó, rồi đưa những người được
    cứu sống trở lại làng.
    Con yêu tinh bị giết, chẳng bao lâu những người trốn tránh xa gần đều trở
    về nhà cũ. Cái làng hoang vắng xưa kia nay lại đông đúc yên vui. Lúa lại
    xanh đồng, khoai tươi tốt, trâu dê đầy chuồng. Nhớ ơn cứu sống, hai mươi
    mốt cô gái đẹp lấy bảy chàng trai khỏe làm chồng. Bảy người sinh con đẻ
    cháu chật nhà mà không bị lừa lọc đói khổ như xưa.
    (Truyện cổ dân tộc Chăm)
    Phạm Xuân Thông và Quảng Đại Cường sưu tầm, biên soạn.
    Nguồn: Truyện cổ tích Việt Nam hay nhất, tập 2,

    Nguyễn Cừ tuyển chọn, Nxb. Văn học, H., 2002.

    TRUYỆN CỔ TÍCH VIỆT NAM
    CHỌN LỌC
    Nhiều Tác Giả
    www.dtv-ebook.com
    Bầu Tiên Và Gậy Rút
    Ngày xưa ở làng Thọ Vực (thuộc xã Vĩnh Ninh, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh
    Thanh Hóa bây giờ) có một gia đình nghèo sinh được mấy người con, trong
    số đó, người con thứ hai đặt tên là Trịnh Phát Giác. Giác là một chú bé kháu
    khỉnh và thông minh lắm. Ngày ngày, chú thường chăn bò ở ven núi đầu làng
    với chúng bạn. Các chú thường nhận thấy là cứ đến phiên chợ Giáng thì có
    một ông già xách bị, cầm gậy đi qua bãi cỏ. Có lúc ông cụ đi thẳng, nhưng
    cũng có lúc ông cụ ngồi xuống nghỉ chân vài ba khắc. Lần nào ngồi nghỉ ông
    cũng đều ngắm nghía từng chú bé một và lẩm bẩm những gì không rõ. Một
    hôm, Trịnh Phát Giác bạo dạn chạy lại, hỏi cụ:
    - Cụ ơi! Cụ ở đâu mà phiên chợ nào cũng qua lại và nghỉ ở đây thế?
    Ông cụ gật gù thầm nghĩ: "Thằng bé này khá lắm", và trả lời:
    - Lão ở xa lắm. Lão đi chợ qua đây thấy các cháu chơi vui thì nhìn một tí.
    Cháu có muốn gánh đỡ cho lão không? Cứ gánh đi tới chợ, lão mua bánh
    cho.
    Phát Giác gật đầu đồng ý, bảo với chúng bạn:
    - Chúng mày ơi! Giữ hộ bò tao với nhé. Chờ tao đi xem chợ một chốc.
    Rồi ông cụ cho bánh tao đem về cho mà ăn.
    Quả thật, chiều về, Trịnh Giác mang theo cho chúng bạn rất nhiều quà

    bánh. Mấy phiên chợ sau, ông lão cũng vẫn đi qua và cũng rủ Phát Giác đi
    chợ như vậy. Đã có đôi lần, một vài chú bé khác xin đi thay, nhưng đứa nào
    cầm đến chiếc bị của ông cụ cũng đều kêu nặng, không tài nào xách lên nổi,
    cả những đứa lớn khỏe hơn Phát Giác rất nhiều cũng vậy. Chúng lấy làm lạ
    hỏi ông cụ:
    - Cụ ơi! Cụ bỏ cái gì vào trong bị mà nặng thế?
    Ông cụ mở bị lôi ra quả bầu:
    - Có gì đâu, chỉ có quả bầu lão đựng nước uống đi đường đấy mà.
    - Thế sao Phát Giác nó xách nổi, mà chúng cháu xách không nổi?
    - Chẳng phải thế, có lẽ Phát Giác nó xách quen rồi đấy thôi! - Ông cụ trả
    lời qua quýt.
    Bọn mục đồng không tin, nhưng cũng không hỏi thêm nữa. Chúng nhìn
    theo ông lão bước đi thoăn thoắt và Phát Giác nhẹ nhàng theo sau mà vừa lạ
    lùng, vừa thèm muốn. Hôm ấy, mãi đến xế chiều vẫn không thấy ông lão và
    thằng bé về. Chúng chờ mãi không được, đuổi bò về cho Phát Giác và đến kể
    cho gia đình nghe. Bố mẹ Phát Giác hoảng hốt chạy bổ đi tìm, nhưng tìm
    khắp cả mọi nơi đều không thấy con đâu cả. Sáng hôm sau cũng không thấy
    Phát Giác về. Liên tiếp đến hàng năm vẫn bặt tin tức. Mẹ Phát Giác khóc lóc
    khổ sở, đành chịu mất con.
    Nhưng thật ra, chiều hôm ấy, Phát Giác vẫn đi với ông lão. Ra đến chợ,
    ông lão bảo Phát Giác đứng chờ, để ông lão đi bán thuốc. Mãi đến sẩm tối
    mới thấy ông lão ra và hai ông cháu trở về. Thấy bạn bè đã về hết, Phát Giác
    khóc và bảo ông cụ:
    - Cụ dẫn cháu đi lâu thế này, về nhà mẹ cháu đánh cháu chết mất.

    Ông cụ khuyên nhủ:
    - Thôi, trời đã tối rồi, cháu về nhà lão ở, mai lão dẫn cháu về, nói rõ câu
    chuyện, bố mẹ cháu không mắng đâu.
    - Nhà cụ ở đâu?
    - Ở đây thôi.
    Vừa nói, ông cụ vừa mở bị lấy quả bầu ra, bảo Phát Giác nhìn vào trong
    ấy. Một quang cảnh lạ lùng diễn ra trước mắt chú bé ngây thơ. Đây là cả một
    thế giới riêng có làng xóm, nhà cửa hẳn hoi, ánh mặt trời chiếu xuống khe
    núi. Trên hàng cây dương liễu, chim hót líu lo. Ông cụ dắt Giác bước vào,
    ngồi trên một phiến đá phẳng lì, mát rượi. Chú bé nhìn quanh nhìn quẩn, càng
    nhìn càng thích mắt. Ông cụ lại bảo:
    - Cháu đói rồi phải không? Có oản, chuối đấy, ăn đi. Ăn rồi vục nước dưới khe kia mà uống.
    Ông cụ với tay lên một chiếc lẵng treo cạnh cành cây, bên phiến đá, lấy ra
    một mẩu oản nhỏ xíu và vươn mình sang hàng chuối trước mặt, bẻ cho Phát
    Giác một quả. Phát Giác lúc đầu cho rằng ăn có chừng ấy thì chẳng bõ bèn gì,
    nhưng cầm lấy phần oản, chú chưa ăn hết được một góc đã thấy no. Quả
    chuối vừa bóc ra thì mùi hương thơm phức, vị ngọt mà thanh. Thực chưa bao
    giờ chú được ăn món quà đặc biệt như thế. Ông lão mỉm cười, giảng giải:
    - Cái oản cháu ăn đó, làm bằng thứ nếp vạn thọ người đời không có đâu.
    Các thứ hoa quả ở đây đều là của tự nhiên không vướng gì trần tục, nên mới
    có mùi hương như vậy.
    Rồi ông cụ dắt Phát Giác đứng dậy, dạo chơi ven bờ suối. Ông cụ chỉ dải
    cát lấp lánh bên bờ mà bảo chú bé:

    - Cháu có thấy những gì đó không? Vàng bạc cả đấy! Ở nơi bố mẹ cháu ở,
    được một viên nho nhỏ như thế là quý vô cùng. Nhưng ở đây thì chỉ là một
    thứ sỏi đá.
    Như sực nhớ ra điều gì, Phát Giác quay lại hỏi ông cụ:
    - Cháu nhớ vừa mới rồi, cụ dắt cháu ở chợ về thì trời đã sẩm tối. Sao bây
    giờ ở đây lại như đang còn vào buổi sáng hở cụ?
    - Ở đây không có ngày tháng gì cả. Trời đất lúc nào cũng như bây giờ. Có
    cả mặt trăng, mặt trời cùng một lúc. Cháu có muốn xem cảnh trăng thì đi theo
    lão.
    Ông cụ dắt Phát Giác đi vào phía sau. Quả nhiên ở đây là một cảnh trí
    khác lung linh, huyền ảo, ánh trăng bàng bạc chiếu xuống hàng cây đỏ, bãi
    cát xanh. Thấp thoáng xa xa có ngọn đèn chập chờn của một xóm quê ẩn hiện
    dưới làn sương mỏng. Phát Giác càng xem càng thích, càng thấy cảnh sắc êm
    đềm, tươi đẹp. Em lại hỏi ông cụ:
    - Sao cháu thấy có xóm làng mà không thấy có người nào cả.
    Ông cụ đáp:
    - Có chứ, ở đây có rất nhiều người, nhưng người ở đây đều là tiên cả.
    Cháu đã nghe nói đến tiên bao giờ chưa? Họ cũng làm lụng, ăn uống, trò
    chuyện như người đời. Có điều là họ không có hạng giàu hạng nghèo, kẻ trên
    người dưới. Ai cũng làm lấy mà ăn, không cãi cọ tranh giành, mọi người đều
    vui vẻ. Của cải, vật dụng dồi dào, không có chuyện trộm cắp xấu xa, không ai
    có của riêng của để. Họ ra chơi luôn, đông như ngày hội, rồi đây cháu sẽ được gặp.
    Ở trong thế giới ấy với ông cụ được ít lâu, Trịnh Phát Giác nhớ nhà quá.
    Em nói với ông cụ xin về thăm bố mẹ và các em. Em còn muốn đưa bố mẹ và

    các em vào trong này xem cảnh. Ông cụ ra ý không vui.
    - Cháu về à? Nhà cháu bây giờ xa lắm đấy. Cháu về làm gì nữa? Cháu
    không muốn ở đây sao?
    - Cháu muốn ở đây lắm. Nhưng cháu còn các em, cháu nhớ các em cháu.
    Và cháu còn bố mẹ cháu.
    Ông cụ không ngăn được, bèn đưa cho em một cái gậy và một phẩm oản:
    - Lão bận lắm, còn phải làm thuốc. Bây giờ cháu cứ cầm cái gậy này mà
    đi ra. Nơi nào không đi được thì cứ cầm gậy trỏ xuống đất thì sẽ vượt qua
    mau chóng.
    Trịnh Phát Giác cầm lấy gậy và oản, chào ông cụ đi ra. Chú bé nhặt mấy
    viên sỏi đẹp bên khe suối bỏ vào túi, định về cho em chơi và khoe với chúng
    bạn. Được mấy bước, chú ra khỏi quả bầu, ngoảnh mặt lại thì không thấy ông
    cụ, nhà cửa, khe suối đâu nữa. Trước mặt chú là những dãy núi cao chót vót,
    làng mạc thôn xóm thì ở đâu xa tít chân trời. Phát Giác hoảng sợ, cầm gậy trỏ
    xuống đất. Bỗng nhiên chú thấy thân mình cất bổng lên cao, hai bên tai gió
    quạt vù vù. Chỉ trong chớp mắt, quay đầu gậy lại, chú đã thấy mình đứng ở
    đầu làng Thọ Vực. Chú mới biết rằng đó là chiếc gậy thần tiên để rút đất và
    ông cụ quả thật là một thần nhân.
    Phát Giác lần theo lối cũ đi vào làng, về nhà mình. Chú chắc mẩm sẽ được
    gặp cha mẹ, anh em, nhưng lạ thay, không thấy một ai quen thuộc. Một cụ già
    ra đón chú, hỏi chuyện, và trả lời một cách kinh ngạc:
    - Trước đây hàng trăm năm, tôi có nghe cụ tổ nhà tôi kể có một người con
    trai thất lạc từ thuở bé, tên tuổi đúng như cậu. Bây giờ đã gần ba đời rồi kia
    mà.
    Cả họ hàng làng xóm kéo đến. Phát Giác hỏi đến những người bạn chăn

    bò chăn trâu thuở trước thì đã mất cả rồi. Phát Giác kể lại câu chuyện trong
    chiếc bầu tiên. Ai nấy đều lấy làm kinh dị. Một ông lão nói:
    - Thôi thế chính là cậu đã được đi vào cõi tiên rồi. Tôi nghe nói một ngày
    trên trời dài bằng cả năm dưới hạ giới. Chúng tôi đây chỉ là hạng con em,
    cháu chắt của cậu thôi.
    Trịnh Phát Giác hoang mang, không biết xử trí ra sao cả. Cậu móc túi lấy
    mấy viên sỏi ra, nhưng vừa đặt lên tay thì sỏi đã thành những cánh hoa bay
    mất. Buồn rầu, cậu cắm chiếc gậy xuống đất. Chiếc gậy bỗng hóa thành ra
    một con rồng, cậu bé trèo lên lưng rồng và bay đi. Nơi cắm chiếc gậy nổi lên
    một dãy núi đá có cửa hang mở rộng. Người làng đi vào trong hang thấy cảnh
    trí thần kỳ, có đường đi mãi vào trong. Họ quay về hỏi những người tinh
    thông sách vở. Một cụ đồ tra điển tích...
     
    Gửi ý kiến