Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập, làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động lớn: Cuộc vận động “Hai không”, “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.

CHỦ ĐỀ NĂM HỌC 2018-2019

Thư điện tử




Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Bài 12. Một số công trình tiêu biểu của mĩ thuật thời Lý

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Tham khảo cùng nội dung: Bài giảng, Giáo án, E-learning, Bài mẫu, Sách giáo khoa, ...
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Phan Thanh Lam (trang riêng)
    Ngày gửi: 10h:11' 03-12-2011
    Dung lượng: 1.3 MB
    Số lượt tải: 34
    Số lượt thích: 0 người
    thường thức mĩ thuật
    Bài 12
    một số công trình tiêu biểu
    của mĩ thuật thời lý
    I. Kiến trúc
    Ii. Điêu khắc và gốm
    III. Bài tập
    thường thức mĩ thuật
    Bài 12
    một số công trình tiêu biểu
    của mĩ thuật thời lý
    I. Kiến trúc
    Ii. Điêu khắc và gốm
    iV. Bài tập
    thường thức mĩ thuật
    I. kiến trúc
    Chùa Một Cột (Hà Nội)
    Nguyễn Huệ Chi dịch:

    Đêm thu chùa thoảng tiếng chuông tàn

    Phong đỏ, trăng ngời, sóng nguyệt lan

    In ngược hình chim, gương nước lạnh

    Sẫm đôi bóng tháp, ngón tiên hàn.

    Muôn duyên chẳng vướng: xa trần tục

    Một mảy nào lo: rộng nhãn quan

    Thấu hiểu thị phi đều thế cả

    Dầu ma dầu Phật, chốn nào hơn?
    Diên Hựu tự

    Thượng phương thu dạ nhất chung lan

    Nguyệt sắc như ba phong thụ đan

    Si vẫn đảo miên phương kính lãnh

    Tháp quang song trĩ ngọc tiêm hàn

    Vạn duyên bất nhiễu thành giá tục

    Bán điểm vô ưu nhãn phóng khoan

    Tham thấu thị phi bình đẳng tướng

    Ma cung Phật quốc hảo sinh quan
    延祐寺
    上方秋夜一鐘闌

    月色如波楓樹丹

    鴟吻倒眠方鏡冷

    塔光雙峙玉尖寒

    萬緣不擾城遮俗

    半點無憂眼放寬

    參透是非平等相

    魔宮佛國好生觀
    Thiền sư Huyền Quang (1254-1334) có một bài thơ về chùa Một Cột như sau:
    thường thức mĩ thuật
    I. kiến trúc
    Chùa Một Cột (Hà Nội)
    Chùa Một Cột (gọi theo Hán-Việt là Nhất Trụ tháp 一柱塔), còn có tên khác là Diên Hựu (延祐) hoặc Liên Hoa Đài (蓮花臺, "đài hoa sen"), là một ngôi chùa nằm giữa lòng thủ đô Hà Nội. Đây là ngôi chùa được coi là một trong những công trình kiến trúc tiêu biểu của kinh thành Thăng Long và độc đáo nhất Việt Nam.
    - Lịch sử
    - Kiến trúc
    - Biểu tượng
    thường thức mĩ thuật
    I. kiến trúc
    Lịch sử Chùa Một Cột
    Chùa được xây dựng vào mùa đông tháng mười âm lịch năm 1049.
    Chùa chỉ có một gian nằm trên một cột đá ở giữa hồ Linh Chiểu nhỏ có trồng hoa sen. Truyền thuyết kể lại rằng chùa được xây dựng theo giấc mơ của vua Lý Thái Tông (1028-1054) và gợi ý thiết kế của nhà sư Thiền Tuệ. Vào năm 1049, nhà vua đã mơ thấy được Phật bà Quan Âm ngồi trên tòa sen dắt vua lên toà. Khi tỉnh dậy, nhà vua kể chuyện đó lại với bề tôi và được sư Thiền Tuệ khuyên dựng chùa, dựng cột đá như trong chiêm bao, làm toà sen của Phật bà Quan Âm đặt trên cột như đã thấy trong mộng và cho các nhà sư đi vòng xung quanh tụng kinh cầu kéo dài sự phù hộ, vì thế chùa mang tên Diên Hựu.
    thường thức mĩ thuật
    I. kiến trúc
    Lịch sử Chùa Một Cột
    Đến năm 1105, vua Lý Nhân Tông cho sửa ngôi chùa và cho dựng trước sân hai tháp lợp sứ trắng.
    Năm 1108, Nguyên phi Ỷ Lan sai đúc một cái chuông rất to, nặng một vạn hai nghìn cân, đặt tên là "Giác thế chung" (Quả chuông thức tỉnh người đời).
    Đến thời nhà Trần, chùa đã không phải là ngôi chùa đời nhà Lý nữa vì sách cũ đã ghi: Năm 1249, "...mùa xuân, tháng giêng, sửa lại chùa Diên Hựu, xuống chiếu vẫn làm ở nền cũ...".
    Chùa Một Cột được trùng tu vào khoảng những năm 1840-1850 và vào năm 1922. Đài Liên Hoa chúng ta thấy hiện nay được làm lại năm 1955.
    Cạnh chùa Một Cột ngày nay còn có một ngôi chùa có cổng tam quan, với ba chữ "Diên hựu tự", là ngôi chùa mới được xây dựng phụ vào với chùa Một Cột, xây khoảng đầu thế kỷ 18.
    thường thức mĩ thuật
    I. kiến trúc
    Kiến trúc Chùa Một Cột
    Theo tài liệu lịch sử, lối kiến trúc một cột có từ trước đời nhà Lý. Ở Hoa Lư, Ninh Bình trong ngôi chùa con gái vua Đinh Tiên Hoàng, có một cây cột đá cao, sáu cạnh, khắc bài kinh Lăng Nghiêm, đề niên hiệu thời Lê Hoàn (981–1005). Phía trên cột là tòa sen chạm. Năm Long Thụy Thái Bình thứ năm đời Lý Thánh Tông (1058) có xây điện Linh Quang ở Thăng Long, phía trước điện dựng lầu chuông, một cột sáu cạnh hình bông sen. Như vậy, trước khi xây chùa Một Cột, lối kiến trúc đó đã là một thực tế nghệ thuật cổ truyền. Ngôi chùa có kết cấu bằng gỗ, trong chùa đặt tượng Phật bà Quan Âm để thờ. Năm 1105, vua Lý Nhân Tông cho mở rộng kiến trúc khu chùa có thêm hồ Linh Chiểu. Về sau, quy mô chùa Một Cột chỉ còn lại ngôi chùa nhỏ trên cột đá như hình ảnh hiện nay.
    thường thức mĩ thuật
    I. kiến trúc
    Kiến trúc Chùa Một Cột
    Chùa Một Cột hiện nay bao gồm đài Liên Hoa hình vuông, chiều dài mỗi cạnh 3 m, mái cong, dựng trên cột cao 4 m (không kể phần chìm dưới đất), đường kính 1,25 m có cột đá là 2 khúc chồng lên nhau thành một khối. Tầng trên của cột là hệ thống những đòn gỗ làm giá đỡ cho ngôi đài ở trên. Đài Liên Hoa có mái ngói, bốn góc uốn cong, trên có lưỡng long triều nguyệt. Ngày nay không có những cánh sen trên cột đá như đã nói đến trong bia văn thời nhà Lý, nhưng ngôi chùa dựng trên cột vươn lên khỏi mặt nước vẫn là kiến trúc độc đáo, gợi hình tượng một bông sen vươn thẳng lên khu ao hình vuông được bao bọc bởi hàng lan can làm bằng những viên gạch sành tráng men xanh.
    thường thức mĩ thuật
    I. kiến trúc
    Biểu tượng Chùa Một Cột
    Chùa Một Cột đã được chọn làm biểu tượng của thủ đô Hà Nội và đài truyền hình Hà Nội, ngoài ra biểu tượng chùa Một Cột còn được thấy ở mặt sau đồng tiền kim loại 5000 đồng của Việt Nam.
    Xem hình>>
    Kiến trúc Chùa Một Cột
    Chùa Một Cột (nam 1922)
    Chùa Một Cột
    thường thức mĩ thuật
    II. điêu khắc và gốm
    1. Điêu khắc
    Tượng A-di-đà (chùa Phật Tích - Bắc Ninh)
    Pho tượng được tạc từ khối đá nguyên xanh xám, là tác phẩm điêu khắc xuất sắc của nghệ nhân thời Lý nói riêng và của nền nghệ thuật dân tộc nói chung. Pho tượng được chia làm hai phần rõ rệt:
    - Phần tượng
    - Phần bệ tượng
    Cách sắp xếp chung của pho tượng hài hoà, cân đối; tạo được tỉ lệ cân xứng giữa tượng và bệ.
    Xem thêm bài: A-di-đà
    Phật giáo Việt Nam
    thường thức mĩ thuật
    II. điêu khắc và gốm
    1. Điêu khắc
    Phần tượng A-di-đà
    Phật A-di-đà ngồi xếp bằng , hai bàn tay ngửa, đạt chồng lên nhau để trước bụng , tì nhẹ lên đùi dáng ngồi thoải mái không gò bó. Các nếp của áo choàng bó sát người được buông từ vai xuống tạo nên những đường cong mềm mại , tha thướt và chau chuốt. Mình tượng mảnh khảnh, ngồi hơi dướn về phía trước , trông uyển chuyển nhưng lại vững vàng.
    Phật Khuôn mặt tượng phúc hậu, dịu hiền mang đậm vẻ đẹp lí tưởng của người phụ nữ Việt Nam: mắt lá dăm, lông mày lá liễu , mũi dọc dừa thanh tú , cổ kiêu ba ngấn và nụ cười kín đáo.
    thường thức mĩ thuật
    II. điêu khắc và gốm
    1. Điêu khắc
    Phần bệ tượng A-di-đà
    Phật A-di-đà ngự trên bệ đá toà sen được trang trí bằng các hoa văn tinh xảo và hoàn mĩ. Bệ đá gồm hai tầng:
    Tầng trên là toà sen hình tròn, như một đoá sen nở rộ với hai tầng cánh, các cánh sen được chạm đôi rông theo lối đực nông, mỏng.
    Tầng dưới là đế tượng hình bát giác, xung quanh được chạm trổ nhiều hoạ tiết trang trí hình hoa dây chữ "S" và sóng nước.
    Xem hình>>
    Tượng A-di-đà (chùa Phật Tích - Bắc Ninh)
    Pho tượng Phật A-di-đà khổng lồ ở Kamakura, tỉnh Kanagawa, Nhật Bản
    thường thức mĩ thuật
    II. điêu khắc và gốm
    1. Điêu khắc
    Rồng
    Rồng là hình ảnh tượng trưng cho quyền lực của vua chúa. Song thời Lý có những đặc điểm cấu tạo khắc hẳng với các thời trước hoặc cùng thời ở Trung Quốc. Rồng thời Lý là sản phẩm của sáng tạo nghệ thuật dân tộc Việt Nam.
    Những nét độc đáo của Rồng thời Lý :
    - Thân rồng
    - Đầu rồng
    - Miệng rồng
    Rồng thời Lý chỉ được chạm khắc ở những di tích liên quan trực tiếp tới vua như ở Kinh đô, một số chùa là nơi vua đã đi qua hoặc cư trú lại như chùa Phật Tích, Chùa Dạm, Chùa Long Đọi... Rồng tường có mặt cạnh những biểu tượng Phật giáo như lá đề và hoa sen.
    thường thức mĩ thuật
    II. điêu khắc và gốm
    1. Điêu khắc
    Thân Rồng

    Thân rồng uốn hình sin 12 khúc, đại diện 12 tháng trong năm, biểu trưng cho sự thay đổi thời tiết năm tháng, sự trù phú và phồn vinh của nền văn hóa nông nghiệp lúa nước. Thân mềm mại uốn lượn thể hiện sự biến hóa và khả năng thay đổi, dịch chuyển thiên nhiên của con rồng cai quản thời tiết, mùa màng. Trên lưng có vây nhỏ liền mạch và đều đặn.
    Xem hình >>
    Rồng trung hoa
    Rồng thời lý
    Rồng thời lý
    Rồng thời lý
    thường thức mĩ thuật
    II. điêu khắc và gốm
    1. Điêu khắc
    Đầu Rồng
    Đầu rồng là phần rất đặc biệt, hoàn toàn khác rồng Trung Hoa. Nó có bờm dài, râu cằm, không sừng (như rồng Trung Hoa). Mắt lồi to, hàm mở rộng có răng nanh ngắt lên, đây là điểm hoàn toàn khác với các con rồng khác của các nước. Đặc biệt là cái mào ở mũi, sun sóng đều đặn (có người goi là mào lửa) chứ không phải là cái mũi thú như rồng Trung Hoa. Lưỡi mảnh rất dài.
    Xem hình >>
    thường thức mĩ thuật
    II. điêu khắc và gốm
    1. Điêu khắc
    Miệng Rồng
    Miệng rồng luôn ngậm viên châu, ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc rồng hay cầm ngọc bằng chân trước. Viên châu tượng trưng cho tính nhân văn, tri thức và lòng cao thượng. Đầu rồng luôn hướng lên đớp lấy viên ngọc thể hiện tinh thần tôn trọng các giá trị nhân văn cao quý, theo đuổi sự uyên bác và tinh thần cao thượng
    Xem hình >>
    thường thức mĩ thuật
    II. điêu khắc và gốm
    2. Gốm
    Truyền thuyết lịch sử nói rằng vào thời Lý có ba vị đỗ Thái học sinh (như tiến sĩ) là Hứa Vĩnh Kiều, Đào Trí Tiến và Lưu Phương Tú được cử đi sứ Trung Quốc, học được nghề gốm sứ, khi về truyền cho quê hương. Hứa Vĩnh Kiều truyền cho làng Bát Tràng làm gốm sắc trắng (vẽ hoa văn màu lam phủ men trắng ). Đào Trí Tiến truyền cho làng Thổ Hà gốm sắc đỏ ( gốm sành phủ men nâu, son). Lưu Phương Tú truyền cho làng Phù Lãng gốm sắc vàng (phủ men vàng thẫm, vàng da lươn).
    thường thức mĩ thuật
    II. điêu khắc và gốm
    2. Gốm
    Nghệ thuật gốm thời Lý đã phát triển mạnh và đạt đến đỉnh cao
    Có các trung tâm lớn và nổi tếng về gốm như Thăng Long, Bát Tràng, Thổ Hà, Thanh Hoá...
    Chế tạo được các men gốm quý hiếm như gốm men ngọc, men lục, men da lươn, men trắng ngà.
    Hình vẽ trang trí là hình tượng bông sen, đài sen hay lá sen cách điệu được khắc nổi hoặc chìm.
    Đặc điểm: Xương gốm mỏng, nhẹ, chịu được nhiệt độ lửa cao. Dáng nhẹ nhõm, thanh thoát, trau chuốt, mang vẻ đẹp trang trọng, quý phái
    Gốm thời lý
    thường thức mĩ thuật
    iii. Bài tập
    - Kể tên các tên các công trình kiến trúc và tượng thời Lý mà em biết vào vở ghi. Tìm hiểu thêm về rồng các nước
    - Sưu tầm các bài viết về thời Lý
    - Chuẩn bị bài sau
     
    Gửi ý kiến