Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập, làm theo tư tưởng, tấm gương đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các cuộc vận động lớn: Cuộc vận động “Hai không”, “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức, tự học và sáng tạo”, phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.

CHỦ ĐỀ NĂM HỌC 2018-2019

Thư điện tử




Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Gốc > Chuyên đề Giáo Dục >

    Giáo dục Tiểu học – Khó và dễ

     

    Nhiều ý kiến cho rằng với GD tiểu học, chẳng có gì để lo nữa vì nó quá ổn, bao nhiêu năm cả nước dồn sức cho cấp học này rồi, bây giờ cứ thế mà tiến. Những quan ngại là ở cấp học khác, dưới nó và trên nó! Thực tế có đúng như vậy không? Ông Lê Tiến Thành - Vụ trưởng Vụ GD tiểu học, Bộ GD-ĐT đã sẵn sang giải đáp những vấn đề của cấp học mà PV đặt ra. Ông Lê Tiến Thành - Vụ trưởng Vụ Tiểu học - Bộ GD&ĐT PV: Thưa đ/c Vụ trưởng, ông đánh giá thế nào về ý kiến chung của dư luận đối với GD tiểu học? Chắc hẳn là ông thấy vui? VT Lê Tiến Thành: Là người chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng về quản lý cấp học, nghe những ý kiến này, tôi cũng thấy vui, vì dư luận xã hội quan tâm nhiều đến GD tiểu học. Bây giờ, làm GD thật không phải dễ, diện phủ của GD rất rộng, nó liên quan đến mỗi người, mỗi nhà. Đặc biệt nó động đến yếu tố con người và sự phát triển. Còn nói về GD tiểu học, thì phải công nhận là giáo dục tiểu học tương đối ổn định. Trước hết, ở tiểu học có lợi thế lớn là gần như toàn bộ các trường tiểu học là trường công lập, ngân sách nhà nước lo hết, tiểu học là cấp học duy nhất trong hệ thống GD quốc dân mà người đi học không phải đóng học phí. Công tác PCGDTH-CMC bắt đầu từ 1991 và kết thúc vào năm 2000 cũng là một thuận lợi lớn cho sự phát triển giáo dục tiểu học, vì toàn Đảng, toàn dân cả nước dồn sức cho nhiệm vụ quan trọng này. Trong quá trình phát triển đó giáo dục tiểu học được tách riêng thành một cấp học (1994) nhờ đó nền nếp dạy và học, công tác quản lí càng được quan tâm. Mọi chủ trương, chính sách được chỉ đạo cụ thể, đầy đủ, kịp thời, cập nhật từ Bộ đến các trường tiểu học, có thế mới đáp ứng được yêu cầu huy động tối đa trẻ em trong độ tuổi đi học. Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận là khi thực hện mục tiêu PCGDTH-CMC, chúng ta mới chỉ quan tâm được nhiều về quy mô, về tỉ lệ huy động, mà chưa quan tâm được nhiều đến cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và chất lượng giáo dục, nhất là ở những vùng khó khăn. PV: Chất lượng GD thì không chỉ riêng tiểu học, thưa ông. Nhưng với một cấp học nhiều lợi thế như tiểu học mà vấn đề chất lượng vẫn còn là một mối lo ngại thế thì các cấp học khác còn lo ngại đến đâu? VT Lê Tiến Thành: Chất lượng GD là vấn đề không thể chủ quan, chất lượng luôn là sự quan tâm của ngành giáo dục. Năm 1996, Bộ ban hành quyết định về công nhận Trường chuẩn quốc gia ở tiểu học có thể coi là một sự khởi động đầu tiên cho giải pháp chất lượng GD toàn diện. Lần đầu tiên, điều kiện để đảm bảo chất lượng giáo dục toàn diện đã được đề cập khá đầy đủ gồm 5 yếu tố, đó là: chất lượng cán bộ quản lí, chất lượng và cơ cấu đội ngũ giáo viên, các tiêu chuẩn về cơ sở vật chất, sự tham gia của cộng đồng trong xã hội hoá giáo dục và các chỉ số về kết quả đào tạo. Chất lượng đã được đặt ra và kèm theo là những điều kiện để đảm bảo chất lượng, chứ không chỉ động viên nỗ lực của đội ngũ một cách duy ý chí như trước nữa. Nhưng, cũng phải nói thật là chất lượng GD tiểu học chỉ thực sự được quan tâm từ năm 2001 đến nay, do công tác phổ cập giáo dục tiểu học đã được nâng lên một trình độ cao hơn, đó là PCGDTH đúng độ tuổi. Cùng với việc thực hiện mục tiêu PCGDTHCS theo Nghị quyết 41 của Quốc hội khoá X phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi góp phần củng cố vững chắc thành quả công tác PCGDTH – CMC, làm nền tảng vững chắc cho PCGDTHCS. Thực hiện được việc này phải vừa huy động được trẻ đến trường đúng độ tuổi, đồng thời với giảm tỉ lệ lưu ban, bỏ học để đảm bảo học sinh hoàn thành chương trình tiểu học ở tuổi 11 chứ không phải 14 như nêu trong tiêu chuẩn PCGDTH – CMC trước đây. Hơn nữa, tiêu chuẩn công nhận PCGDTH đúng độ tuổi không có nhân nhượng giảm chuẩn cho vùng khó khăn như PCGDTH-CMC ở giai đoạn trước. Thêm nữa, đồng hành với quá trình PCGDTH đúng độ tuổi còn là việc đổi mới CT-SGK theo NQ 40 của Quốc hội khoá X, bắt đầu triển khai thực hiện chương trình và sách giáo khoa tiểu học mới từ năm học 2002 - 2003. Thực hiện chương trình và SGK mới giúp cho giáo viên tiểu học làm quen với phương pháp dạy học mới, tiếp cận với cách đánh giá mới, cách tổ chức dạy học mới. Kèm theo thay sách là đội ngũ GV không ngừng được để nâng dần trình độ đào tạo đạt chuẩn và trên chuẩn; tuy rằng, chưa phải tất cả đã đáp ứng nhu cầu nhưng rõ ràng việc đi học nâng cao trình độ đã có tác động tích cực đến năng lực của GV. Đổi mới phát triển về kinh tế xã hội đã góp phần tích cực nâng cao nhận thức của xã hội về vị trí, vai trò giáo dục trong phát triển đất nước đã giúp cho giáo dục được các ngành, các cấp và nhân dân quan tâm đầy đủ hơn. Có thể nói, công tác PCGD là không bao giờ dừng kết thúc một giai đoạn, một trình độ lại tiếp tục phấn đấu để đạt trình độ mới cao hơn. Với GD tiểu học phổ cập giáo dục gắn liền với chất lượng, thì cũng là một cách củng cố chất lượng GD và phát huy thành quả đã đạt được. PCGDTHCS là động lực, là đầu ra cho PCGDTH đúng độ tuổi, còn PCGDTH đúng độ tuổi lại là trách nhiệm tạo nền tảng đầu vào cho PCGDTHCS. Thực tế cho thấy, PCGDTHCS trên nền tảng PCGDTH đúng độ tuổi thì kết quả sẽ vững chắc hơn nhiều. Tôi cho rằng, PCGDTH đúng độ tuổi là đảm bảo vững chắc cho chất lượng giáo dục tiểu học và PCGDTHCS. PV: Nhưng thưa đ/c Vụ trưởng, thực tế thì có nhiều địa phương sau khi đạt chuẩn PCGDTHCS mới quay lại làm PCGDTH đúng độ tuổi, vậy thì trách nhiệm thuộc về ai, và liệu có cần đặt vấn đề chất lượng PCGDTHCS với các địa phương này? VT Lê Tiến Thành: Về câu hỏi này, tôi nghĩ rằng các cơ quan chức năng khác sẽ có câu trả lời thoả đáng hơn. Riêng với GD tiểu học, thì tôi cho rằng PCGDTH đúng độ tuổi không chỉ là nhiệm vụ phổ cập GD đơn thuần, mà nó là một bài toán lâu dài cho chất lượng GD tiểu học và các cấp học kế tiếp. Như trên tôi đã nói, có 2 nhiệm vụ của PCGDTH đúng độ tuổi là: một mặt phải lo huy động trẻ trong độ tuổi đến trường (chống bỏ học), mặt khác phải lo làm sao để việc học có chất lượng (chống lưu ban). Không nên chủ quan về tình trạng học sinh bỏ học khi tỉ lệ này ở tiểu học hiện nay là thấp (0,49% tại thời điểm 31-5-2008, thêm 0,3% trong hè nữa cũng mới là 0,8%.). Cứ cho tỉ lệ cả lưu ban và bỏ học là 2% một năm thì khi hết 5 năm tiểu học “rơi” mất 10% thì so với tỉ lệ huy động được hiện nay (95%) thì sau 5 năm cũng vẫn còn 85%, vẫn đạt chuẩn. Nhưng, nên nhớ rằng, chúng ta có 7 triệu HS tiểu học, chỉ 1% của con số này cũng đã là 70.000 rồi. Như vậy là rất đáng quan ngại chứ. Mà bỏ học ở tiểu học thì các em nhỏ ấy biết làm gì, đi đâu,ớongs như thế nào? Bác Hồ từng mong mỏi làm sao để “đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”. Đối với chúng tôi một người không được học là một nỗi ám ảnh, một em HS tiểu học không đi học là một nỗi xót xa. Huy động và tạo điều kiện cho trẻ em đi học là trách nhiệm của toàn xã hội chứ không riêng gì GD, nhưng trước hết phải là GD không để học sinh bỏ học vì nhà trường, vì học kém, còn những lí do khách quan khác của việc bỏ học như đói nghèo, phải lao động sớm, bênh tật, ... toàn xã hội phải tìm ra nguyên nhân để cùng nhau tháo gỡ. PV: Xem ra, những nút khó gỡ của GD tiểu học vẫn nằm ở vùng KT-XH khó khăn? Và chúng ta vẫn đang tập trung sức lực cho công việc này chứ thưa ông? VT Lê Tiến Thành: Đúng là như vậy, và đặc biệt là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS). Họ chỉ chiếm 13% dân số cả nước nhưng địa bàn cư trú của họ lại trải trên 2/3 lãnh thổ quốc gia và tỉ lệ HS tiểu học vùng này lại chiếm 18%. Thành bại của GD tiểu học là ở 18% này. Có xã của tỉnh Lai Châu rộng gần bằng cả tỉnh Bắc Ninh nhưng giỏi lắm thì cũng chỉ có đến 2 trường tiểu học chứ bao nhiêu! Cũng do địa bàn rộng, dân cư phân tán nên đặc điểm của GD tiểu học vùng DTTS là còn rất nhiều điểm lẻ và lớp ghép. Có đến trên 40.000 điểm trường lẻ (mà số trường tiểu học cả nước cũng chỉ có 15.000). Trung bình một trường tiểu học ở vùng DTTS có vài điểm lẻ, thậm chí đến gần hai chục điểm lẻ. Khó khăn nữa cho chất lượng GD tiểu học vùng DTTS là tình trạng học ghép các trình độ trong cùng một lớp (lớp ghép). Mới đây, ngày 13-10-2008, Bộ GD-ĐT đã có công văn gửi các Sở GD-ĐT huớng dẫn quản lý và tổ chức dạy học lớp ghép cấp tiểu học, trong đó nêu rõ mục đích yêu cầu của việc quản lý và tổ chức dạy học lớp ghép, hướng dẫn xây dựng kế hoạch dạy học, kế hoạch bài học và tổ chức các hoạt động dạy và học; quy định về CSVC, thiết bị, đồ dùng dạy học, bố trí GV, kiểm tra đánh giá… Khó khăn lớn nhất cho việc dạy và học ở vùng DTTS là rào cản ngôn ngữ. Năm học này, Bộ xây dựng Đề án phổ cập 1 năm mẫu giáo 5 tuổi chính là để giúp các em làm quen với tiếng Việt trước khi vào lớp 1, có chương trình chuẩn bị tiếng Việt trong 3 tháng hè cho học sinh mầm non người dân tộc; các tỉnh thuộc dự án PEDC triển khai có hiệu quả tài liệu “Chuẩn bị tiếng Việt”. Khi vào lớp 1 lại có các giải pháp tăng cường tiếng Việt như: tăng thời lượng học thêm 15 tuần theo nhiều cách khác nhau (có hướng dẫn), thử nghiệm dạy học tiếng Việt cho HS DTTS theo tài liệu của Trung tâm công nghệ GD ở 7 tỉnh (Lào Cai, Sơn La, Tây Ninh, Kiên Giang, An Giang, Đăk Lăk, Kon Tum), các tỉnh thuộc Dự án Bạn hữu trẻ em (Lào Cai, Gia Lai, Trà Vinh) tích cực chuẩn bị nghiên cứu thực hành GD song ngữ dựa trên tiếng mẹ đẻ… Sau khi rà soát CT-SGK, chúng tôi cũng đang xây dựng tài liệu hướng dẫn dạy học theo chuẩn. Căn cứ vào chương trình, xây dựng chuẩn kiến thức như một phần lõi cơ bản nhất của kiến thức và kĩ năng cần đạt đối với mọi đối tượng học sinh. GV căn cứ vào chuẩn và SGK tổ chức dạy học cho mọi đối tượng (theo chuẩn) và với mỗi đối tượng (phù hợp với trình độ riêng) ở một mức phù hợp. Không phải như từ trước đến nay là cứ căn cứ vào phân phối chương trình, và dạy hết nội dung SGK dẫn đến ttình trạng quá tải ở tiểu học. Vì chỉ có một bộ SGK dung chung cho các vùng miền nên tình trạng này dễ dẫn đến quá tải với đối tượng này nhưng lại chưa hết “tải” với đối tượng khác nên GV được quyền lựa chọn mức độ phù hợp với học sinh của mình. PV: Xin được cắt ngang, vậy tài liệu này có phải là một giải pháp tình thế khi chưa có được một chương trình nhiều bộ SGK? VT Lê Tiến Thành: Không, ngay cả khi có nhiều bộ SGK vẫn phải có chuẩn chung, được xây dựng từ một chương trình thống nhất. Và việc dạy theo chuẩn vẫn phải được đảm bảo, đồng thời vẫn đáp ứng được nhu cầu phát triển ở một bộ phận học sinh, phù hợp nhiều đối tượng người học khác nhau. PV: Vậy giải pháp chất lượng GD tiểu học sẽ phải là một hệ thống song hành, với tất cả các vùng miền? VT Lê Tiến Thành: Bất cứ trong hoàn cảnh nào cũng vậy, ngoài các giải pháp đặc thù, vẫn phải tiếp tục những giải pháp mang tính chiến lược như nâng cao chất lượng đội ngũ, đổi mới công tác quản lý, tăng cường các điều kiện vật chất cho dạy và học…Với chất lượng GD tiểu học, về lâu dài, tôi nghĩ vẫn cần phải tăng thời lượng học bằng cách học 2 buổi/ngày. Hiện nay với 1 buổi/ngày thì mới chỉ có 530 giờ học/năm. Phải tiến tới 700 giờ học/năm và theo mục tiêu của Chương trình GD Dakar thì đến 2015 số giờ học trong năm với HS tiểu học phải đạt 900 giờ. Đây là một con số khó đạt, bởi việc tăng thời lượng học đồng nghĩa với việc phải tăng biên chế GV, tăng phòng học các loại và sân chơi bãi tập. Hiện nay, người dạy tiểu học vẫn vừa thừa vừa thiếu, nhất là với các môn học như: nhạc, hoạ, tin học, ngoại ngữ… PV: Bên cạnh việc tập trung nâng cao chất lượng GD tiểu học đại trà, theo ông, có nên xây dựng những mô hình GD tiểu học chất lượng cao như là một dịch vụ GD để đáp ứng nhu cầu của một số đối tượng? VT Lê Tiến Thành: Đảm bảo và ngày càng nâng cao chất lượng và hiệu quả GD là mong muốn, là trách nhiệm của mọi người, mà nòng cốt là ngành GD. Tuy nhiên, tạo nhiều cơ hội lựa chọn chất lượng cho người học cũng là xu hướng phát triển mà GD mọi cấp học đều hướng tới. Dịch vụ GD chất lượng cao là một mô hình mà Hà Nội và các thành phố lớn đang thí điểm. Vấn đề là làm sao để có sự gặp nhau giữa bên có nhu cầu và bên đáp ứng. Các khoản thu thêm trong trường học đang gây bức xúc trong dư luận, nhưng tôi cho rằng, đánh giá hiện tượng này cần phải thận trọng và công bằng. Nếu đó là sự thoả thuận, tự nguyện giữa 2 phía, đáp ứng nhu cầu thật thì cần khuyến khích, thu chi có mục đích nguyên tắc rõ ràng, không nên phê phán chung chung. Cần xác định rõ: tiểu học là cấp học phổ cập và miễn phí (buổi 1 là miễn phí), nếu chưa đủ biên chế 1,5 GV / lớp mà phụ huynh có nhu cầu học thêm thì có thể thoả thuận bồi dưỡng làm thêm cho lao động của giáo viên, còn có thể có các dịch vụ GD khác ngoài chương trình qui định, vấn đề là đảm bảo lợi ích các phía, tự nguyện và công bằng. PV: Vâng, tình hình này cũng không phải là phổ biến, chỉ có ở những vùng KT-XH phát triển, những đô thị lớn. Nếu giải quyết rành mạch như vậy thì không có điều gì phải bàn, nhưng ở đây có một hiện tượng không được minh bạch cũng đang gây bức xúc, đó là chuyện thu tiền trái tuyến ở những trường công lập. Quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào? VT Lê Tiến Thành: Với cấp tiểu học, Bộ chỉ quản lý vĩ mô, còn các lĩnh vực quản lý khác đã phân cấp đến quận, huyện. Quan điểm của riêng tôi: Làm sao để có nhiều trường tốt thì sẽ tránh được “vấn nạn trái tuyến”. Tất nhiên, không thể nói tuyệt đối không có HS trái tuyến (những trường hợp đặc biệt) nhưng chỉ nhận HS trái tuyến khi đã đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh trên địa bàn theo Luật phổ cập GDTH, còn thừa chỗ học theo chuẩn (35 HS/lớp). Việc để xảy ra những sai phạm về tài chính trong trường hợp này là thuộc trách nhiệm của cấp quản lý đã được phân định. Trong tình hình hiện nay, cấp quản lý có trách nhiệm cần có giải pháp điều hoà chất lượng giữa các trường trong địa bàn để làm sao mọi trường công đều đảm bảo đủ điều kiện học tập tốt cho HS trên địa bàn. Bên cạnh đó, khuyến khích các mô hình trường dịch vụ chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu của người học, có sự kiểm định, quản lý và giám sát của cơ quan chức năng. PV: Trân trọng cảm ơn ông về cuộc trao đổi này!

     Nguyễn Thị Trâm (thực hiện) ,
    Nhắn tin cho tác giả
    Lê Đức Minh @ 13:51 01/10/2009
    Số lượt xem: 383
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến